Đời làm chủng sinh tôi nhớ nhất thời gian ở Tân Hiệp. So với những nơi tôi đã cắm lều đặt chõng cho những năm tháng đèn sách vất vả, cái tên Tân Hiệp vừa gợi lên sự âm thầm bé nhỏ, vừa rộn lên những tình nghĩa mặn nồng nhưng cũng nhắc lại bao thử thách nghiệt ngã. Đúng hơn Tân Hiệp chỉ là một xứ đạo bình thường chứ không phải một mái trường đào tạo đúng nghĩa. Nhưng chính tại nơi đây, lớp chúng tôi đã trải qua một thời gian hai năm thụ huấn. Ba mươi hai anh em tụ về đây trong bối cảnh một xã hội vừa bước sang một khúc quanh lịch sử mới. Biết bao kỉ niệm thân thương, biết bao biến cố vui buồn, biết bao dấu ấn đã để lại trong lòng mỗi người từ Tân Hiệp.
Thời gian trôi qua mau, nhưng nếu nhìn lại thì năm nay, năm 2008, là kỉ niệm đúng ba mươi năm chúng tôi giã từ Tân Hiệp. Những hình ảnh có thể phôi phai dần theo năm tháng, nhưng kí ức và kỉ niệm của tôi về Tân Hiệp vẫn luôn sống động. Riêng tôi, suốt thời gian này tôi đã ghi nhật kí khá đều đặn và vẫn còn giữ được cho tới ngày hôm nay. Cuốn nhật kí của tôi kết thúc vào một ngày anh em chia tay trong âm thầm, vội vã, hoang mang và lưu luyến.
I. Trang đầu nhật kí
Khởi đầu của nó là vào ngày thứ Năm, 1 tháng Bảy, năm 1976 anh em chúng tôi được gọi về đây để bắt đầu một chương trình đào tạo mới. Như vậy là đã hơn một năm tính từ cột mốc thời gian lịch sử 30 tháng Tư 1975. Những giờ phút đầu tiên bước vào khung cảnh mới ai cũng ngơ ngơ ngác ngác như những người “Sion trở về”. Sự nóng lòng chờ đợi được gặp lại nhau sau một kì nghỉ dài, nhiều biến động, xen lẫn cảm xúc vui mừng được quy tụ lại trong một hoàn cảnh xã hội cực kì khó khăn đã khơi lên trong chúng tôi tâm tình cảm tạ trong những ngày tiếp theo. “Tay bắt măt mừng” anh em nhìn nhau mà chan chứa niềm vui và dâng trào tình mến. Nhưng nét buồn cũng đã tức khắc lẻn vào ngay giây phút rộn rã ban đầu ấy, đó là những người trở về chỉ là một “số còn sót lại”. Lúc chia tay vội vã ở Rạch Giá, là điểm cuối cùng của giai doạn tiểu chủng viện, tôi nhớ con số sít soát là 50 người.
Cuộc trở về hôm nay không còn đủ. Có một số anh em đã lùi lại, đã rã ngang, hoặc đã “cao bay xa chạy” với nhiều lí do khác nhau. Lòng tôi đượm buồn mà chẳng muốn biết lí do của họ thế nào. Những anh em này có người tôi đã kết thân từ suốt thời gian tiểu chủng viện. Lúc này thiếu họ tôi cảm thấy như bị xén bớt niềm hạnh phúc của hồng ân được trở về. Thói quen đã có ngay từ thời gian bắt đầu cuộc sống tiểu chủng viện: mỗi khi trong lớp có một anh em rẽ hướng thì những anh em còn lại đau xót như “cả một tàu ngựa không ăn cỏ”. Bù lại cho hôm nay, lớp có thêm những người mới, đó là bác Đảm, một người của lớp Vô Nhiễm 65; các anh Ru, Ren, Ruyễn, và Chánh, biệt danh là “Đức Mẹ Sầu Bi”. Tất cả là 32 người. Con số 32 chẳng ứng được vào với một thực tại “đắc hạnh” nào nên chẳng bao lâu sau nó lại đổi thay nữa.
Ba mươi hai con người sống âm thầm lặng lẽ, vừa miệt mài “nấu sử xôi kinh” vừa cật lực “lao động vinh quang” để tồn tại. Chúng tôi gắn bó với nhau để sống. Cuộc sống đậm đà tình yêu thương trong bầu khí gia đình ấm áp chan hoà. Ít có luật lệ đăt ra như trong một “xã hội lí”; nếu có thì chỉ là để sắp đặt các sinh hoạt cho phù hợp với hoàn cảnh hết sức khó khăn lúc đó. Sống chung được mấy tháng thì bắt đầu vào Mùa Vọng và chuẩn bị Giáng Sinh. Giáng Sinh năm 1976 là một lễ Giáng Sinh nghèo nàn, đạm bạc, trơ trọi. Giáo xứ phụ trách hang đá trong nhà thờ, còn chúng tôi dọn một hang đá nhỏ ngoài trời, bên hông phải nhà thờ.
Lễ xong, khi mọi người đã ra về, trong bầu khí vắng lặng của khuôn viên nhà thờ, tôi âm thầm cầu nguyện trước hang đá. Tôi ghi lại trong nhật kí như sau: “Thứ Sáu 24 tháng 12, 1976: Đêm nay Chúa Hài Đồng ngự đến, lòng tôi dạt dào niềm hạnh phúc lắng sâu. Tôi được có mặt hôm nay và ở đây với những người anh em thân thương, thật là diễm phúc! Trong đêm Hồng Phúc này tôi muốn nhớ tới tất cả mọi người, những người đã làm nên cuộc đời tôi dài theo năm tháng thời gian ...”
Vậy đó, khi nghĩ về thời gian ở Tân Hiệp, tôi sống lại trước hết mối chân tình anh em đối với nhau. Trong gian nan thử thách tình người luôn bền chặt, thắm thiết. Làm sao tôi có thể quên được câu chuyện “hạt gạo cắn đôi” sau đây. Cũng vào ngày thứ Sáu 18 tháng Ba, 1977, tức là trước lễ Thánh Giuse một ngày. Dịp đó chúng tôi vừa thu hoạch xong vụ lúa đông xuân. Công việc kết thúc tốt đẹp, năng xuất lúa tuy không “bội thu” nhưng khá cao, chứng minh cho “tính ưu việt” của cung cách “làm ăn mới”.
Chúng tôi được phòng xã hội khu vực thị trấn bán cho một số miếng vải theo chế độ tem phiếu. Những miếng vải nhỏ bằng sa tanh và vải thun có lẽ do nhà máy dệt Nam Định sản xuất, được phân phối cho hộ tập thể “tu sinh” Đài Đức Mẹ (không hiểu người ta phân biệt thế nào mà lúc đó chúng tôi được gọi là tu sinh chứ không phải tu sĩ!) Những miếng vải ấy, khổ chỉ vừa đủ hoặc thiếu cho một đơn vị áo hoặc quần. Ngày nay cho không, không thèm lấy, nhưng lúc ấy thật là quý hiếm. Mỗi tổ được ba hay bốn miếng, làm sao chia cho mười một, mười hai người? Vậy là bắt thăm. Nhưng một số người trong tổ đề nghị: ngày mai là lễ Thánh Giuse, vậy ai bổn mạng Giuse thì được lấy. Thế là tôi được mua một miếng áo vải thun sọc đỏ. Khổ người tôi lớn, may ra áo, chỉ được cái áo cụt tay mà vẫn còn hơi chật. Vải áo thun cứ co vào mãi, khi mặc cứ phải kéo miết xuống phía dưới, nếu không, đúng là “thiếu trước hụt sau”!
Biết bao những kỉ niệm khó quên, biết bao biến cố vui buồn, lo âu, bất an xảy ra cho chúng tôi trong giai đoạn Tân Hiệp này. Chúng tôi sống bị động, vừa nơm nớp nghe ngóng, vừa tỉnh thức nhận định thời cuộc, vừa khép mình trong lặng lẽ, âm thầm. Nếu ghi lại đầy đủ các sự kiện, các biến cố chắc phải được một cuốn sách lớn. Tuy nhiên tôi chỉ muốn lưu giữ lại tình nghĩa và sự gắn bó chặt chẽ mà anh em chúng tôi đã cảm nghiệm trong thời gian ở Tân Hiệp. Trong tình thế khó khăn, chúng tôi đã gắn chặt với nhau để tồn tại, để duy trì lí tưởng. Mỗi ngày mới xuất hiện, tôi tự nhắc nhở mình câu này: “Non cao vẫn có đường trèo; Đường dẫu hiểm nghèo cũng có lối đi” để mà dũng cảm bước tới.
Hôm nay ngồi đọc lại những trang nhật kí ghi lại ba mươi năm trước, lòng tôi rộn lên một niềm vui trầm lắng. Tôi nhận thấy có điều gì đó thật là diệu kì, thật lạ lùng trong từng bước chân cuộc đời của mình. Trong tâm tình này tôi nhớ về từng khuôn mặt anh em ở Tân Hiệp. Và theo yêu cầu của một số anh em khác trong lớp muốn hiểu rõ hoàn cảnh ở Tân Hiệp, tôi xin ghi lại một số câu chuyện, một vài người anh em đã để lại những dấu ấn đặc biệt ở Tân Hiệp. Tôi cũng xin lỗi trước nếu có những chi tiết mà tôi không thể nắm bắt hết, hoặc theo cách nhìn của riêng tôi. Mục đích chỉ là để chia sẻ thân tình.
II. Nét sống Tân Hiệp
Người trước hết tôi nhớ đến là Châu Hoàng Ngọc. Ngọc một thời được gọi là người của Tân Hiệp, bởi vì sau khi chúng tôi ra đi, Ngọc còn trụ lại đây một thời gian khá lâu để chứng kiến tất cả những biến cố bi thảm xảy đến cho hạt Tân Hiệp. Và chính anh cũng đã phải nếm trải những ngày tháng đầy thử thách nghiệt ngã, căng thẳng, và quyết liệt nhất xảy đến cho cuộc đời của anh với tư cách là “người của Tân Hiệp”. Lúc ở Tân Hiệp biệt danh của Ngọc đã thay đổi, anh không còn được gọi là “Ngọc hến” mà gọi là “Đan-cô”. Cái tên này hình như là một nhân vật trong cuốn sách “Thiền sư Suzuki”.
Tôi cũng lấy làm lạ là thời gian đó khá nhiều anh em “niệm thiền” đến nỗi cha giáo triết học Quang Chu đã tế nhị nhắc nhở rằng, thiền học lúc này không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Người ta phải năng động, “sấn xả” nhập cuộc để xây dựng cuộc sống chứ không nên có thái độ “tĩnh”, an vi theo đường lối của Thiền. Tôi hiểu lời cha giáo nhắc nhưng không hiểu gì lắm về Thiền, và tôi vẫn nhớ lời nhận định này. Trong cái trào lưu sôi nổi tụng thiền đó, anh em trong lớp nhận thấy trên bàn học của Châu Hoàng Ngọc những đồ vật thật kì lạ: có khi là một gốc cây khô anh lượm được sau giờ làm công tác ở vườn, có khi là một cái hàm răng chó trắng hếu, hoặc một cục gạch bể chẳng ra hình thù nào…và anh ngồi tịnh lặng chiêm nghiệm nhiều giờ trước các vật thể lạ lùng đó để luận giải về một “công án thiền”! Vậy là cái tên Đan-cô ra đời. Có lẽ nhờ chuyên chú nhập thiền mà khi tổng kết số điểm các môn học, tôi nhớ Đan-cô đã đạt được điểm maximum về thần học cơ bản, môn khó nuốt nhất của cha già Nghi. Khi Tân Hiệp giải tán, Đan-cô còn ở lại đây một thời gian dài. Tôi chỉ nghe phong thanh rất nhiều chuyện “oai hùng” anh đã làm trong thời gian này. Nhưng chi tiết li kì thế nào thì chỉ anh mới biết.
Một người khác tôi không thể không nhớ tới, đó là Phan Hùng Châu. Tôi phải nhớ đến anh vì thời gian ở Tân Hiệp tôi rất phục anh. Có thể nói anh là mẫu gương cho tôi trong việc học hành cho tới tận hôm nay. Lúc đó, công việc lao động chân tay thì nhiều và đa dạng: làm ruộng, làm vườn, bán rau bán qủa, nấu cơm dọn bàn, rửa chén, công tác vệ sinh, đi họp đi hội…Nhất là vào lúc xuống giống và gieo sạ thì việc học chỉ cầm chừng. Những lúc phải chạy lúa tránh mưa thì sau đó anh em chỉ còn nước “khềnh” trên giường mà thở dốc! Vậy mà họ Phan vẫn điềm nhiên mở “cua” thần học cơ bản, một mắt anh đeo kính lúp sửa đồng hồ trông giống hệt hình thái tướng độc nhãn Do Thái, Moshe Dayan, tay anh hí hoáy gắp gắp các con ốc nhỏ hơn hạt tấm; còn mắt kia anh “xơi” món thần học thât ngon lành. Tôi nằm trên giường liếc mắt theo dõi thì còn lạ lùng hơn nữa: miệng anh cứ lắp bắp tập phát âm theo cách cha già Nghi tên Hans Küng, nhà thần học người Thuỵ Sĩ, rất hay được cha già nhắc tới trong khi giảng bài. Miệng anh cứ trẹo đi và chu chu cái “mỏ” để cuộn cái âm “” của tiếng Đức vào tận vòm họng. Anh kiên trì tập luyện, méo mó cái miệng khiến tôi suýt phì cười. Hiện anh sống ở Mỹ, nhưng đã có lúc anh bị ung thư ở ngay chính vòm họng. Deo gratias, Chúa cho “tai qua nạn khỏi”, nhưng tôi đoan chắc mười mươi là do ảnh hưởng trước đây anh khổ luyện tập phát âm “Hans Küng”!
Một người khác tôi cũng “bái phục” suốt thời gian ở Tân Hiệp, đó là Đỗ Văn Nam. Suốt thời gian ở Tân Hiệp, họ Đỗ sống rất ư là “bản lãnh”. Đối với tôi cũng như là những anh em khác, mọi chuyện của cuộc sống lúc đó cứ phải dọ dẫm, lần mò tìm hiểu. Còn Đỗ Văn Nam thì anh tỏ ra thông suốt tất cả, quen thuộc tất cả, rất tự tin; anh thuộc loại mẫu mực nhưng có vẻ hơi khép kín: từ bề trên cho đến bề dưới, từ các sơ cho đến những giáo dân, từ công việc cho đến các tương quan…đâu đâu anh cũng có vẻ thành thạo. Chả là so với anh em, Nam thuộc loại COCC của cố Lịch, cố Phổ, những đấng thuộc hàng “tứ trụ đường dầu”, rất có thế giá trước mặt bề trên lúc đó.
Trước khi chúng tôi về Tân Hiệp, anh đã quen đường nhẵn mặt tất cả mọi người ở đây. Trong một lần khảo “oral” về Kinh Thánh Cựu Ước, anh làm mọi người “lè lưỡi” thán phục, vì anh nhắc được cả địa danh Mê-gít-đô, nơi vua Akhátgia tử trận (x. 2 V 9, 27). Thế là từ đó anh được mang biệt danh là Mê-gít-đô. Khi rã đám ở Tân Hiệp, chúng tôi phải “quy cố hương” về gia đình, lang thang tìm phương cách sống theo “ánh sáng Thánh Thần soi dẫn” - câu nói trong bài huấn đức cuối cùng của cha Quang Chu- còn Mê-gít-đô thì mau chóng có ngay một địa vị “thầy xứ”, rất oách. Một thời gian sau tôi “rụng rời” tâm can khi Mê-gít-đô âm thầm từ giã anh em để theo tiếng gọi của con tim. Nói “rụng rời” không phải tôi thích “dùng từ đặt nghĩa” mà đúng thực là tâm trạng của tôi, bởi vì trong hoàn cảnh “dầu sôi lửa bỏng” lúc đó, khi nghe tin một người bỏ hàng ngũ hay “go oversea”, tôi bị xao động và xuống tinh thần kinh khủng. Sau đó tôi vắng tin anh. Mới đây tôi được biết anh đang sống ở Củ Chi trong một gia đình êm ái hạnh phúc, công việc ổn định.
Một tên tuổi khác không thể không nhắc đến, đó là Nguyễn Văn Huỳnh. Mộng Huỳnh là biệt hiệu của anh có từ thời Tân Hiệp. Tên Mộng Hùynh ngày nay nhắc cho chúng ta một vị trí trong làng nhạc thánh ca Việt Nam. Một số bài hát của anh còn được kí tên là Vy Uyên Thy. Mộng Huỳnh lúc nào cũng “tròn trịa” và hiền như cục đất, kể cả những lúc khó khăn và gay cấn nhất. Anh luôn ăn nói chậm chạp, nhẹ nhàng, miệng thì cười tươi khi nói chuyện. Đồng hành cùng anh từ thời Châu Đốc, rồi Long Xuyên, Rạch Giá, tôi không thấy anh biểu lộ thiên khiếu nào về âm nhạc. Nhưng khi về Tân Hiệp anh viết nhiều ca khúc rất hay, anh sáng tác những vần thơ đầy cảm hứng rồi phổ nhạc. Anh chơi đàn ghi-ta, violon, phong cầm, và thổi harmonica rất có hồn. Ca đoàn Tân Hiệp hát rất phấn khích mỗi khi được thầy Huỳnh đệm đàn.
Tôi nhớ có lần anh em lớp phát động sáng tác ca khúc về thánh bổn mạng Lê Bảo Tịnh, nhiều anh em góp mặt hưởng ứng, tôi cũng đóng góp một bài, nhưng chỉ có bài của Mộng Huỳnh và Đỗ Ngọc Việt là có hồn, được anh em đánh giá cao và được sử dụng nhiều. Tôi vẫn còn nhớ mang máng âm điệu và lời ca những bản nhạc ấy. Có những buổi chiều sau giờ tắm, chúng tôi tụ lại giường của anh hát vang một góc phòng một ca khúc của anh mới viết. Lúc đó tôi nghĩ, qua những dòng nhạc và thi hứng của anh, anh trải ra được nỗi niềm, tình yêu và tâm tư chung của chúng tôi, những người tuổi U-22, 23 căng đầy sức sống, muốn vươn mình ra hết cỡ mọi chiều cuộc sống, nhưng lại bế tắc trước thời cuộc. Tôi thấy tận mắt nhiều đêm Mộng Huỳnh ôm cây đàn ghi ta “xạc xài” của mình, guộn tròn trong chăn ngủ say như “ngủ với người yêu.”
Không biết trên thế gian này có hình ảnh nào nói lên chất nghệ sĩ sống động hơn thế không. Những kì đi làm thủy lợi, Mộng Huỳnh luôn mang đàn theo. Sau những giờ phút mệt nhọc bải hoải thân mình, tiếng đàn trong trẻo, réo rắt, kì ảo của anh làm cho thế giới của chúng tôi lúc đó trở nên phấn chấn và ấm cúng vô cùng. Tôi ghi lại vắn tắt một kì làm thủy lợi tại nông trường Kiên Hảo, đó là Thứ Ba, 19 tháng Tư, 1977. Công việc vô cùng vất vả, thách thức: trời giao mùa nắng như đổ lửa, đất gan gà cứng hơn sỏi đá, xà beng lớn bằng gốc cây tầm vông phóng xuống mặt đất cứ chan chát lại nẩy lên mà mỗi ngày một tổ cũng chỉ đào được chừng một mét, chỉ tiêu là mười lăm mét tới, bề rộng bốn mét. Tay chân người nào người nấy phồng rộp; mặt mũi hốc hác, đen đúa trông đến là thê thảm. Nước uống là những vũng nước trâu đằm còn đọng lại, chua le chua lét dù đã nấu sôi và bỏ vào không biết bao nhiêu là chè khô, vẫn không thể nào nuốt nổi.
Hai tối đầu chúng tôi cắm trại nghỉ tại hiện trường lao động, nhưng thấy sức khoẻ quá xuống, nhắm không trụ nổi, anh em họp bàn mỗi chiều tối trở lại bờ kênh Tân Hội, cách chừng 7 km, để dễ bề nghỉ ngơi, lấy lại sức và sáng khởi hành sớm. Chuyện đổi kế hoạch bất ngờ này còn một lí do khác, thuyết phục hơn. Đó là vào tối đêm thứ hai, tôi nằm ở trong trại bắt đầu thiu thiu ngủ thì nghe một tiếng khóc nỉ non, ỉ ôi, lúc đầu nhẹ nhàng thoảng thoát, nhưng càng lúc càng tức tưởi, day dứt, oan nghiệt. Tôi lạnh ớn người, kéo khít chăn về phía mình. Trời bên ngoài mờ mờ một vầng trăng ảm đạm. Im vắng giữa đồng không mông quạnh, tiếng khóc nghe quái đản đến rợn rùng. Tôi nằm im nghe ngóng một lát thì thấy có tiếng nói, rồi nhiều tiếng nói góp vào. Rõ ràng là tiếng nói của anh em mình. Tôi thò đầu ra khỏi trại thì biết được đích xác đó là Đỗ Ngọc Việt. Lạy Chúa tôi! Tôi hoàn hồn chạy đến nhóm trại của Việt, nhiều anh em khác cũng xúm lại, nhìn anh và cảm thông sự tình. Rồi Việt dần dần nguôi lại. Một người cứng cát, hay khôi hài, và trào lộng cỡ Đỗ Ngọc Việt lại “rớt độ” thê thảm đến thế sao? Tôi chưa bao giờ hỏi anh tại sao chuyện này. Rồi Mộng Huỳnh vơi lấy cây đàn và cất lên bài hát “Trên đường con đi Mẹ ơi”. Mọi người oà hát theo. Tiếng hát vút lên trong đêm thanh mênh mông Kiên Hảo. Thú thật chưa bao giờ tôi có được tâm tình thánh thiện trào dâng khi hát một bài hát về Đức Mẹ như đêm hôm ấy. Cho nên nói đến Mộng Huỳnh tôi biết ơn anh vì anh luôn tạo được bầu khí an hoà, tin yêu cho các anh em qua chính con người và âm thanh anh tạo ra.
Một khuôn mặt khác tôi cứ phải nhớ và ghi ơn anh mãi mãi, đó là Phạm Thế Hồng. Phải nói ngay Phạm Thế Hồng là con người ít bộc lộ cá tính. Anh là Hồng, cho nên biệt danh “Rosa” có từ thời Châu Đốc. Nhiều lúc có người “nhấn” thêm để khiêu khích: “con mẹ này…” anh cũng không tỏ vẻ cáu giận, bực bội, chỉ cười hề hề. Anh không là con người thuộc “cực” nào cả; học hành thì trung bình, không nổi nang món nào, không đam mê thứ gì. Hình như anh cũng ít chơi thân với ai trong lớp, ngoài Phạm Đình Huynh nghe nói là bà con và ở cùng kênh. Nhưng Phạm Thế Hồng là một con người cực kì kĩ lưỡng và cẩn thủ. Đồ dùng của anh lúc nào cũng đúng chỗ, ngăn nắp, gọn ghẽ, nghĩa là không chệch chỗ nào. Anh làm việc gì là phải đến nơi đến chốn. Ao dòng anh mặc, các li thẳng tắp từ trên xuống dưới.
Có lần anh em chọc: “Có bịt mắt nó, 30 giây nó cũng lấy ngay được cái quần đùi!” Lúc mới về Tân Hiệp, “con mẹ Rosa” là một trong hai người duy nhất có được chiếc xe đạp, lúc đó là một gia tài quý hơn chiếc…máy bay bây giờ. Anh em thèm thuồng, cảm phục mỗi lần “con mẹ Rosa” phon phon ra phố, hoặc đi “sortie libre” vào sáng Chủ Nhật. Chiếc xe đạp anh luôn luôn khoá và để vào góc phòng, chỗ gần nhất với anh. Lúc nào ở dưới cái thang xe cũng có chiếc khăn để lau lọt cho đủ độ láng. Mùa thu hoạch lúa trong kênh Mười, “con mẹ Rosa” đi xe đạp, còn chúng tôi từng tốp “cuốc” hơn chục cây số để đến địa điểm, rồi chiều trở về. Ngày hôm đó, tôi bị chứng đau bụng hành ráo riết. Người bắt đi tháo trong cơn đau quặt quại, miệng khô dính và mình mẩy ớn lạnh. Nhắm không thể ở lại, tôi trình với bề trên về trước. Nghĩ bụng không thể vượt quãng đường trở lại một cách an toàn, tôi đánh bạo nhưng vẫn rón rén và khúm núm đến hỏi “con mẹ Rosa” mượn xe đạp. Tôi vui như mở cờ trọng bụng khi “con mẹ Rosa” tươi cười OK ngay, nhưng không quên “chêm” thêm câu “ráng giữ cẩn thận”. Tôi mừng rơn dọn đồ nghề ra về một mình.
Về gần đến nhà tôi phải đạp miết vì Tào Tháo lại rượt dữ dội. Đang lúc đó, một con chó bất ngờ phóng ra, tôi vội nghiến răng “xiết phanh”. Chiếc phanh đứt bung. Tôi đạp xe về nhà mà lòng vô cùng áy náy, lo âu, không biết phải ăn nói thế nào với chủ nhân của nó. Chiều, “con mẹ Rosa” về, tôi để ý mắt hắn dõi nhìn ngay chiếc xe. Tôi biết ý, khúm núm đến xuy xoa trình kể sự tình. Quái lạ, hắn không tỏ vẻ bực bội gì mà lại vô cùng cảm thông, nói “không sao, để sửa lại”. Lạy Chúa, tôi mừng quá, khỏi bệnh luôn. Nghĩa cử của “con mẹ Rosa” tôi cứ phải nhớ mãi. Lâu về sau, tôi biết tin hắn đi qua được đất nước của xứ Kangaru, nhưng vẫn giữ nguyên cái tính cẩn thận. Nghe đồn, nhà hắn ở phải luôn có bốn đôi dép: một đôi ở cửa ra vào, đôi khác ở trong phòng, đôi khác trong toilet, và một đôi ở nhà sau. Không biết có đúng không Rosa?
Mỗi người ở Tân Hiệp đều có một chuyện để nhớ, để lưu cảm. Nhưng nếu kể hết e quá dài, nhạt nhẽo, tôi xin phép kể câu chuyện cuối cùng, đó là câu chuyện “thất hiền” hội tụ tại Tân Hiệp. Câu chuyện này đã trở thành giai thoại bi hài, cười ra nước mắt, và nó cũng trở thành câu chuyện tiêu biểu nhất trong mái nhà thân thương ở Tân Hiệp. Thánh lễ buổi sáng hôm ấy, mọi người giáo dân ở dưới cứ nghến ngáo, ngướng mắt cao để nhìn cho rõ, sao lại có mấy ông sư tham dự thánh lễ chung với các thầy. Mấy bà già như bà cố Tân Phương, bà Năm Trầu, mắt mủi kèm nhèm còn vịn thành ghế lết lên mấy hàng nữa để “mục thị” cho kĩ. Lễ gì mà trọng đại đến thế? Mà ủa, sư lại mặc áo đen! Họ nói là đếm được bảy cái đầu trọc long lóc.
Thánh lễ kết thúc uể oải, lặng lẽ. Lễ xong, một số bà tụ lại bu xu hỏi thêm chuyện, cha Huynh khôi hài đánh lảng: “Công an đang bắt những người để tóc dài, các thầy làm gương cho thanh niên đó.” Rồi ai nấy ra về, vì lúc đó tuy ở xứ, chúng tôi chỉ được tiếp xúc giáo dân giới hạn khi có việc. Còn những vị “hiền sĩ” của chúng ta thì có vẻ lấm lét, im lặng, tỏ nỗi day dứt. An sáng xong anh em mới bu lại hỏi cho rõ ngọn nguồn. Không ai hiểu được như thế nào. Khổ nỗi lễ Chúa Nhật kế tiếp lại là phiên giúp lễ của bốn tên “hiền sĩ” ấy. Giáo dân ở dưới cứ dán chặt mắt vào bốn cái đầu trọc và lúc đó mới nhận được rõ dung nhan các thầy nhà ta.
Thế là những bài huấn đức sau đó xoay quanh chuyện những cái đầu trọc. Bề trên nhận định rằng “các anh bướng bỉnh cự tuyệt chuyện thu hoạch lúa sắp tới”, và cha linh hướng thì nghiêm giọng, “các anh làm chúng tôi hết sức mắc cở với giáo dân!”. Các tên “hiền sí” buồn lắm, tỏ vẻ hối hận. Không ai trong nhóm dám công khai biện minh cho hành động của mình. Điều lạ nữa, là trong số các vị “hiền sĩ” ấy, có những tên sống rất mực thước, điềm đạm, cẩn trọng. Tôi nhớ tên được hết, nhưng thôi chẳng nên kể ra làm chi. Một người bạn thân của tôi trong số đó sau này thủ thỉ: mình thấy anh em làm mình cũng làm, họ bảo “xuống cái đầu” để đi lao động cho “mát mẻ”, tóc tai khỏi ngứa ngáy; thấy có lí, mình nhập cuộc. Một vài người khác thì mừng rỡ nói: “Tí nữa thì mình cũng nhào zô!”
Hôm nay gặp lại nhau, vui chuyện, không ai không nhắc đến câu chuyện “thất hiền” dễ thương ngày xưa. Có ai hiểu đâu, lúc đó là gần kết thúc năm thứ hai ở Tân Hiệp. Sống hai năm ở một xứ đạo nhỏ với những công việc lao động chân tay nhiều hơn học hành, với những con người quá đỗi quen thuộc, chúng tôi cảm thấy bức bối và bắt đầu bị “hội chứng chán nản”. Thời gian này, mỗi buổi chiều Đan-cô lại cất hát nhiều bài não nề của Mộng Huỳnh. Chúng tôi biết chắc rằng sau thời gian hai năm này, chúng tôi không thể ở lại đây thêm nữa, và cũng chắc chắn không thể có chỗ nào để mà tiếp tục việc học dở dang. Nhìn tới thì thấy “mắc núi”; nhìn lại thì thấy mình là số không. Vậy đó, nếu ai hiểu rõ được nỗi niềm của anh em thời điểm ấy, chắc sẽ hết lòng cảm thông với việc xuất hiện bất ngờ các vị “hiền sĩ” trong lớp M. Kolbe.
III. Thời gian của Người
Lịch sử là một chiều dài. Chiều dài lịch sử ơn gọi cũng bao hàm chiều rộng, đan dệt những biến cố bi hùng, những sự kiện khác nhau trong bối cảnh xã hội con người. Tân Hiệp là một mốc thời gian ngắn so với chiều dài quãng đường tôi đã đi qua. Nhưng hôm nay nhìn lại tôi mới thấy rõ được ý nghĩa của nó cho cuộc sống hiện tại của tôi. Trước hết đó là một thời gian ân phúc, thời gian của Người. Vào thời giao điểm lịch sử đất nước sang trang, quyền hành, luật tắc chuyển giao cho những người Mác-xít lãnh đạo, với những con mắt còn quá hẹp hòi và thiển cận, lại nhuốm màu hiềm thù và nghi ngại, không ai có thể chấp nhận cho một “nhóm thanh niên” đông đến ba mươi hai người tụ tập, học hỏi cái thứ vốn bị coi là “thuốc phiện ru ngủ” để rồi lại “đầu độc” biết bao người khác.
Vậy mà chúng tôi đã sống với nhau được hai năm với chương trình đại chủng viện rất mực “academic”: triết học, thần học cơ bản, Kinh Thánh, Tu Đức, Giáo Lí, còn thần học mục vụ thì đó là thực tiễn xứ đạo. Đâu có thiếu những món “kinh điển” nào! Nếu tôi không quá cường điệu thì vào thời điểm đó, ít có nơi đâu tổ chức được như vậy. Chắc chắn công lao này có được do các đấng bề trên khôn ngoan, và đạo đức thánh thiện mà chúng tôi không bao giờ quên ơn. Sau này Tông huấn Pastores Dabo Vobis trình bày và triển khai chi tiết vai trò của xứ đạo trong việc đào tạo ứng sinh linh mục, tôi mới thấy thấm thía và xác tín được bàn tay Chúa quan phòng dẫn dắt.
Cho đến hôm nay tôi mới nghĩ nếu không có thời gian ở Tân Hiệp chưa chắc gì tôi đã có được những kinh nghiệm mục vụ giáo xứ quý báu, dày dặn: lao động chân tay, tổ chức công việc, những tương quan đa dạng, sự tận dụng thời gian, học hỏi từ thực tiễn, thực tập lãnh đạo theo nhóm, nhất là những đức tính: kiên trì, nhẫn nại, chịu đựng, cậy trông phó thác, sự cảm thông chia sẻ, sự bao dung đón nhận. Từ khi bỏ Tân Hiệp cho đến ngày tụ lại ở Cần Thơ, đằng đẵng một thời gian hơn mười năm, chúng tôi ghì gẵng trước cơn lốc đổi thay dồn dập và triệt để trong cái nền tảng xã hội Việt Nam, cùng với biết bao chấn động, đổ vỡ và khủng hoảng. Nhiều cột trụ đã bị bật tung, nhiều cơ cấu đã bị đột phá, nhiều chỗ dựa đã bị san bằng. Nhưng cuối cùng “một số nhỏ” anh em vẫn kiên cường bám trụ.
Thời gian của Người ban ân phúc, nhưng cũng còn là thời gian Người “dạy tôi nên người thiện chiến, luyện thành tay võ nghệ cao cường” (Tv 144, 1); “Người làm cho tôi nên hùng dũng để xông ra chiến trường” (Tv 18, 40). Bắt đầu một thực tế lịch sử mới, chúng tôi dần dần định hình được khuôn mặt xã hội mới mà mình phải dấn thân. Đó là một xã hội thô tháp, gập ghềnh, ngặt nghẹo, nghiệt ngã với những thử thách cam go. Chứ chẳng còn những ưu đãi, những mộng tưởng hiền lành, những trật tự êm mơ, những kiểu cách ẻo lả yếu ớt của một thời như ngừơi ta từng châm biếm: “Nhà thầy làm biếng đã quen, cất lấy cái chổi kéo hen hừ hừ”. Muốn tồn tại và làm chứng trong khuôn khổ mới này chắc chắn cần phải kiên cường phấn đấu, phải “xông ra chiến trường”. Đó là một chiến trận thực sự.
Nhưng lịch sử thì mênh mông, thân phận thì bé nhỏ, mỏng dòn. Mỗi bước chân cứ phải dọ dẫm, lần mò tiến bước mà vẫn nhiều lần trượt ngã, thất bại đau đớn ê chề. Tôi còn nhớ một lần Đức Bùi Tuần gặp chúng tôi, kể lại chuyến đi ad limina của ngài. Ngài trình bày cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II những thành qủa và những khó khăn mục vụ trong giáo phận cũng như trong xã hội Việt Nam đương đại, Đức Thánh Cha đáp từ, trong đó ngài khẳng định: “Il faut toujours lutter.” (Phải luôn luôn phấn đấu). Đức cha tiếp tục chia sẻ với chúng tôi về những phấn đấu liên lỉ của ngài và mời gọi chúng tôi chung sức phấn đấu cùng với ngài. Ngài đưa ra một hình ảnh rất gần gũi thân quen: trong một dòng sông luôn chuyển động ra khơi, ai không tiến tới ắt bị dạt lại. Khởi đi từ Tân Hiệp và cho đến hôm nay tôi vẫn cố gắng sống theo cái “spirituality” đó. May mắn thay có rất nhiều người cùng đồng hành với tôi trên lộ trình này. Mà không phải chỉ có các đấng bậc nhưng còn có rất nhiều người giáo dân hèn mọn, khiêm tốn, rất đỗi bình dị đời thường. Nhưng sống động và hạnh phúc nhất là có bên cạnh những người bạn thân thương cùng song hành tiến bước!
* * * * *
Thời gian này anh em đang náo nức hướng về dịp kỉ nệm bốn mươi năm ngày vào chủng viện. Kỉ niệm về một thời thơ trẻ ngày xưa với tâm hồn đơn sơ, trinh trắng, hồn nhiên đi theo lí tưởng Chúa Kitô vẫn còn có một sức sống khá mạnh để nối kết chúng ta từ khắp bốn phương trời hôm nay, và chắc chắn vẫn còn một sức thôi thúc nào đấy trong riêng tư cuộc sống và trách nhiệm hiện tại mỗi người. Riêng tôi, tôi thường xuyên trở về với những hình ảnh thân thương ngày xưa, tìm lại một chút lãng mạn tinh khôi, nguyên vẹn của thuở đầu dời dâng hiến để tái tạo nguồn sinh lực mới cho cả tâm hồn và thể xác, đang dần hao mòn theo thời gian năm tháng chất đầy. Xin chân thành chia sẻ những tâm tình và suy tư trên đây và chờ mong một ngày hội ngộ tưng bừng, thắm thiết tình thân.
Bình Lộc, những ngày cuối năm Đinh Hợi
Giuse Ngô Quang Trung