TIẾNG GỌI

Lại có những tiếng gọi người nghe được không bằng thính giác hay thị giác, mà bằng trực giác. Thí dụ : Một người nào đó có chuyện quan trọng muốn gặp một trong nhóm thật đông người mà không muốn làm phiền người khác nên chỉ lấy tay đập nhẹ vào vai người mà họ muốn gặp. Người được đập vào vai liền hiểu ngay có người đang gọi mình dù chưa biết đó là ai.

Những tiếng gọi trên đây là loại tiếng gọi tượng thanh, tượng hình, nghĩa là nghe được hoặc thấy được. Còn một loại tiếng gọi siêu hơn, người được gọi chỉ có thể nghe được bằng một cảm nhận siêu nhiên, bằng cảm nhận của con tim. Đó là tiếng gọi của „tình yêu“ giữa người với người. Một thí dụ điển hình về tiếng gọi của tình yêu giữa người với người là tiếng gọi của tình yêu đôi lứa.

Trước khi lời nói yêu thương của hai người nam và nữ được biểu lộ ra bên ngoài, mỗi người đã nghe được bằng cảm nhận tiếng gọi của tình yêu phát xuất từ trong tim của chính mình. Lời nói hay cử chỉ yêu thương dành cho nhau chính là sự đáp trả „tiếng gọi của tình yêu“.

Tiếng gọi của Thiên Chúa con người cũng không nghe được bằng tai hay bằng mắt mà cũng chính bằng sự cảm nhận thâm sâu từ trong tâm, trong trí của con người và mỗi người sẽ nghe được bằng cảm nhận riêng của chính mình.

Tuy nhiên, để nghe được tiếng Chúa thực sự con người cần phải kiên nhẫn và nhất là phải cầu nguyện nhiều, bởi mỗi người sẽ được Thiên Chúa kêu gọi để sống, để thực thi một sứ mệng riêng theo ý của Ngài. Thánh Gioan Thiên Chúa đã phải mất một thời gian rất dài và tìm hiểu rất nhiều mới nghe được „tiếng gọi“ của Chúa cho sứ mệnh „phục vụ người nghèo“.

Khắp nơi trên thế giới lúc nào cũng đã và đang có những con người xả thân làm việc bác ái nhằm xoa dịu những nỗi đau khổ của tha nhân. Động lực nào đã khiến họ hành động như vậy ? Chính là vì họ đã nghe được „tiếng gọi“ làm nhân chứng cho Chúa Kitô trong tận đáy tâm hồn họ.

Đặc biệt các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ trong giáo hội hoàn vũ là những người đã được kêu gọi để tiếp nối công việc của các Tông đồ mà Chúa Giêsu đã ủy thác là „đem hạt giống Tin Mừng gieo vãi khắp thế gian“. Cho đến hôm nay tiếng gọi này vẫn còn đang tiếp diễn.

Ở đây, tôi cũng muốn chia sẻ với các bạn về „tiếng gọi“ của Chúa mà tôi đã nghe được cách đây hơn 40 năm. Ngày đó, Chúa gọi tôi khi tôi còn nhỏ lắm, có lẽ khoảng 10 tuổi. Lứa tuổi vừa đủ lớn để biết chơi u, đánh khăng, đánh bi, tạt loong v.v.... Lứa tuổi ham chơi hơn ham học, ham tới nhà hàng xóm nghịch ngợm hơn đến nhà thờ, ham chạy nhảy phá phách hơn qùy gối nghiêm trang cầu nguyện. Ấy thế mà Chúa đã gọi tôi.

Chúa đã không gọi tôi như đã gọi ông Mai–sen từ trong bụi gai, hay như gọi Samuel trong giấc ngủ, và Ngài cũng không gọi tôi như Chúa Giêsu đã gọi các ông Phêrô, Gioan, Giacôbê v.v... Tiếng Chúa ngày nay không còn vang động như những tiếng gọi bình thường. Nhưng tôi đã nghe được tiếng Chúa gọi qua hình ảnh đơn sơ thánh thiện của những kẻ đang được „ăn cơm nhà Đức Chúa Giời“.

Ngày ấy, vào mỗi dịp hè, các bậc đàn „chú“, đàn „anh“ từ „nhà Đức Chúa Giời“ trở về nơi „thế tục“ để bồi dưỡng tinh thần cùng thể xác. Mấy tháng trời họ không được ăn cơm „nhà Đức Chúa Giời“ nhưng lại được ăn cơm tại nhà „cán bộ“ của Đức Chúa Giời. Thiệt tình mà nói, cơm nhà Đức Chúa Giời đâu có ngon bằng cơm nhà „cán bộ“ Đức Chúa Giời.

Chả thế mà sau này khi tôi đã được ở trong nhà Đức Chúa Giời, một lần kia có cha dòng Phanxicô vào giảng phòng cho chúng tôi đã kể : khi ngài còn bé, mỗi lần vào nhà xứ thấy cha xứ ăn cơm trắng bóc với thịt gà mà phát thèm, bởi vậy khi chính ngài được hỏi „vì sao con thích đi tu“, ngài đã trả lời ngài thích đi tu để được ăn cơm trắng với thịt gà. Đó là niềm mơ ước rất bình dân của tuổi thơ.

Mỗi lần đi lễ tôi được nhìn thấy các „chú“ các „anh“ trong những bộ quần áo sạch sẽ, chỉnh tề và tướng mạo khoan thai thánh thiện như thiên thần mỗi khi chắp tay lên rước lễ. Dù lúc đó tôi còn là một đứa trẻ ngỗ nghịch, ham chơi, ưa phá phách, nhưng tôi vẫn cảm thấy thèm được như họ.

Như vậy, niềm ao ước đơn sơ trong lòng tôi chính là tiếng Chúa mời gọi tôi cách âm thầm, kín đáo. Tôi cảm nhận được Chúa muốn gọi tôi vào làm vườn nho của Chúa. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa có một hành động đáp trả nào tích cực. Rồi thỉnh thoảng tôi hay được bố mẹ sai cầm thư vào nhà xứ để nhờ cha xứ có dịp ra quận (huyện) hay ra tỉnh gửi giùm.

Vào thời đó phương tiện đi lại tại các vùng quê còn khó khăn, giáo dân chẳng mấy người và chẳng mấy khi có dịp ra khỏi phạm vi của giáo xứ chứ đừng nói ra quận, ra tỉnh, chỉ có cha xứ thỉnh thoảng đi cấm phòng hoặc ra quận có việc thì mới ra khỏi giáo xứ. Vì thế, nhà cha xứ trở thành bưu điện bất đắc dĩ, và cha xứ dĩ nhiên cũng trở thành chánh sở bưu điện, đồng thời vừa là nhân viên vừa là người đưa thư bất đắc dĩ.

Chẳng biết hồi nhỏ tướng mạo tôi trông có hiền lành thánh thiện không, hay vì cha xứ đang muốn „chiêu binh mãi mã“ mà mỗi lần tôi vào nhờ ngài gửi thư, sau khi rít một hơi thuốc lào cho ấm phổi và từ từ phun ra những cuộn khói như khói tàu, ngài mới thong thả hỏi tôi : „Con có muốn đi tu không ?“ Hai tiếng „đi tu“ thời đó rất được trân trọng, quý mến. Gia đình nào có con đi tu đều cảm thấy hạnh phúc và hãnh diện. Nhưng không phải đứa trẻ nào cũng thích đi tu, và không phải đứa nào muốn đi là được.

Muốn được đi tu điều quan trọng là phải „lọt vào mắt xanh“ của cha xứ, nghĩa là phải qua một đợt „thanh lọc“ của cha xứ, nếu thuộc thành phần tốt ngài mới cấp giấy giới thiệu. Dĩ nhiên không có vấn đề hối lộ để được tấm giấy giới thiệu, và chẳng ai dám làm việc này vì sẽ bị „dứt phép thông công“ ngay lập tức chứ chẳng chơi.

Phải chăng Chúa đã dùng miệng của cha xứ để hỏi tôi ? Hai tiếng „đi tu“ đối với tôi đúng là một tiếng gọi thầm kín nhưng không kém hấp dẫn. Tuy không phải để được ăn cơm trắng với thịt gà, nhưng chẳng cần suy nghĩ đắn đo tôi trả lời chắc nịch : „Thưa cha có“. Rồi ngài phán tiếp : „Ừ, nếu con thích đi tu thì khi nào các anh lớn về nghỉ hè con vào học kinh và giúp lễ nhé“.

Tôi ra về trong lòng phấn khởi lắm, nhưng chưa dám kể cho bố mẹ biết. Từ đó tự dưng tôi thèm được giúp lễ. Một vài đứa bạn của tôi đã được giúp lễ và mỗi lần nhìn thấy chúng nó trên bàn thờ tôi lại mong cho mấy anh lớn sớm về nghỉ hè. Nhưng hè năm đó các anh lớn về nghỉ hè mà chẳng thấy cha xứ „nhắc lại chuyện xưa“. Tôi hơi thất vọng nhưng lại không dám vào nhắc ngài, thôi đành hẹn lại hè năm sau.

Những ngày sau đó thỉnh thoảng tôi vẫn vào nhà xứ gửi thư và lần nào cha xứ cũng vẫn lập lại với tôi điệp khúc muôn thuở :“Con có muốn đi tu không ?“ Nếu tôi nhớ không lầm ngài đã hỏi tôi nhiều lần hơn Chúa Giêsu hỏi ông Phêrô : „Con có yêu mến Thầy không ?“ Dĩ nhiên câu trả lời của tôi vẫn không thay đổi, nhưng tôi không đến nỗi „nóng máu“ để nổi quạo như ông Phêrô :“ Cha đã biết rồi, còn hỏi mãi“.

Hình như tiếng Chúa vẫn từ tốn trong lòng tôi, và tôi cũng chưa có ý định bỏ cuộc. Rồi mùa hè nữa cũng tới, bóng các „thiên thần“ lớn xuất hiện, lòng tôi thật mừng và hồi hộp chờ đợi như chờ một biến cố lớn sẽ xẩy ra. Thế nhưng, có lẽ không thấy mặt tôi thì những lời hứa của cha xứ sẽ mãi nằm trong ký ức của ngài mà thôi.

Được sự cố vấn của đám bạn, một buổi chiều tôi lấy hết can đảm vào gặp cha xứ để nhắc ngài thi hành „hiệp định“ đã ký kết bằng miệng giữa tôi với ngài. Thành thật mà nói đây là một hành động liều lĩnh, vì ngay cả người lớn còn nể sợ cha xứ huống hồ gì lũ nhóc tì cắc ké như tôi. Có lẽ Chúa Thánh Thần đã tác động trong tôi.

Tôi ấp úng nhưng rất lễ phép trình bày rằng thì là cha đã hứa khi nào các anh lớn về nghỉ hè thì sẽ cho con vào học kinh và giúp lễ v.v… Nghe xong cha xứ tươi cười phán một câu đầy hạnh phúc : „Ừ, tốt lắm, bảo mấy anh lớn dạy kinh tiếng la tinh và chỉ cho cách giúp lễ“.

Không còn gì vui hơn, tôi hối hả chạy xuống nhà dưới (khách sạn của các chú giúp lễ) để „loan báo tin mừng“ cho đám bạn đang chờ tôi ở đó. Tất cả đều vui mừng với tôi vì từ nay có thêm một đồng minh. Sau đó tôi chạy về báo tin cho bố mẹ tôi. Dĩ nhiên trước đó tôi đã trình bày những lần gặp gỡ và trao đổi của cha xứ với tôi. Bố mẹ tôi rất vui mừng khi biết tôi có ý định đi tu, dù chẳng biết sau này tôi có trở thành một „bác thợ gặt“ trong cánh đồng đang thiếu thợ hay không.

Ngay tối hôm sau tôi không thèm ngủ ở nhà với mẹ nữa mà cuốn gói (thực tế chẳng có gì ngoài chiếc quần xà lỏn) vào „khách sạn“ ngủ chung với đám bạn để được học kinh la tinh, được giúp lễ, khởi đầu cho cuộc hành trình vào „nhà Đức Chúa Giời“.

Tôi đi theo „Tiếng Gọi“ từ ngày đó. Nhưng rồi, dù cánh đồng đang thiếu thợ gặt tôi vẫn không phải là „bác thợ gặt“ mà Chúa mong muốn, vì Ngài gọi rất nhiều nhưng chọn rất ít.

Kỷ niệm 40 năm nhập chủng viện Thánh Phụng Châu Đốc.

Đỗ Văn Thục

Một đứa trẻ khi mới bập bẹ nói thường được cha mẹ dạy hai tiếng : ba ba, má má. Những tiếng „Ba ơi, má ơi, hoặc con ơi v.v…” là những tiếng gọi rất thông thường, tiếng gọi cụ thể phát ra bằng âm thanh mà người khác nghe được bằng thính giác.

Nhưng trên đời còn có nhiều loại tiếng gọi khác nhau mà người được gọi có khi không phải nghe bằng tai mà có thể bằng mắt. Thí dụ : từ xa anh A hướng về chị B đưa ngón tay ngoắc ngoắc, tức thì chị B hiểu được anh A đang gọi mình. Như thế chị B không phải nghe được anh A gọi bằng tai mà là bằng mắt. Cũng có khi người gọi chỉ cần một cái nháy mắt thì người đối diện đã nghe được tiếng gọi cũng bằng con mắt của mình.