Năm 2008, gia đình lớp 1968 sẽ mừng kỷ niệm 40 năm kể từ ngày bắt đầu vào Tiểu Chủng Vịên Á Thánh Phụng, Châu Đốc, thuộc Địa Phận Long Xuyên.

Con số 40 là số Thánh. Trong lịch sử Cứu Độ, con số 40 được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Từ câu truyện Đại Hồng Thủy đời ông Noe, nước tràn ngập trái đất trong vòng 40 ngày, Chúa đã cứu gia đình ông Noe và lập thành một dân mới. Rồi câu truyện Xuất Hành của dân Do Thái ra khỏi Ai-cập, họ cũng đã lang thang trong sa mạc những 40 năm trời, chịu thanh luyện thử thách. Sau cùng, Chúa đã đưa dẫn dân vào vùng đất hứa chảy sữa và mật.

Dân Do Thái được Thiên Chúa yêu thương chiều chuộng nhưng rồi chứng nào tật đó, chiều theo yếu đuối và sa ngã phạm tội, từ bỏ tình yêu của Thiên Chúa, tôn thờ các thần dân ngoại, sống theo thói tục của chư dân. Chúa lại gởi đến các Tiên Tri để nhắc nhở khuyên dạy và dìu kéo dân trở về. Tiên Tri Elia xuất hiện loan báo tin vui cứu độ. Thiên Chúa luôn tín trung trong lời giao ước, nhưng con người với trái tim khô cằn cứng cỏi, tìm đuổi bắt và sát hại các tiên tri của Chúa. Tiên tri Elia cũng đã phải chạy trốn 40 ngày trên núi Horeb nguỵện cầu cho dân.

Khi thời gian chuẩn bị đã hoàn tất. Đấng Cứu Thế ra đời, Ngài chính là Con Thiên Chúa, xuống thế mang thân phận con người. Chung chịu số phận của con người, sống trong thời gian và không gian. Trước khi ra rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Chúa Giêsu đã vào sa mạc, tĩnh lặng nguyện cầu trong 40 đêm ngày, không ăn uống. Sau đó, Ngài bắt đầu sứ mệnh bằng việc kêu gọi sám hối và quay trở về với tình yêu của Thiên Chúa. Lời mời gọi lại bị chối từ. Các thượng tế, tư tế, và đoàn dân phản loạn bắt Ngài và đóng đinh vào Thập Giá. Ngài đã chịu chết trên thánh giá và đã sống lại. Sau khi sống lại, Ngài đã ở lại với Giáo Hội sơ khai và các môn đệ yêu qúy trong vòng 40 ngày để an ủi và khuyên dạy các ông.

Chương trình Cứu Độ của Thiên Chúa cho con người đựợc đo tính bằng thời gian của con số 40. Lớp của chúng ta cũng đang bước vào kỷ niệm của con số 40. Đây phải là thời gian thánh. Thời gian 40 năm lịch sử của Lớp1968 bắt đầu tại Tiểu Chủng Viện Á Thánh Phụng, Châu Đốc, được sánh ví với 40 năm Dân Do Thái trong sa-mạc tìm về đất hứa. Chúng ta cũng đã trải qua những thăng trầm trong hành trình. Đã có những phấn đấu, thanh lọc và khổ đau. Chúng ta đã vượt qua tất cả. Bốn mươi năm ròng rã trong vui buồn lẫn lộn. Trong những tiếng cười, những buổi liên hoan và cũng không tránh khỏi những đau thương của chia lìa mất mát. Chúng ta vui mừng nhìn cây cổ thụ 1968 đã sinh hoa trái.

Cây cổ thụ 40 năm đã có trăm hoa đua nở. Đọc lại danh sách và nhìn hình ảnh của 120 chú chủng sinh bé nhỏ, nay đã trở thành cha mẹ, ông bà nội ngoại, thành linh mục. Từ những mái đầu xanh vô tư đã đươc chăm sóc dậy dỗ bởi các Ân Sư. Những lo lắng đổi thay qua tháng ngày. Nhớ khi xưa trong các năm học, mỗi khi thấy một trong số anh em khăn gói hành lý giã từ mái ấm chủng viện, lòng bồi hồi thương nhớ. Nghĩ rằng sẽ không bao giờ có cơ hội gặp lại. Những kỷ niêm hầu như xoá nhòa. Rồi những buổi kết thúc năm học, tan trường về quê nghỉ hè. Trở lại nhà trường lại vắng đi vài em. Con số thu nhỏ lại dần. Lớp 68 vẫn còn đó với bản chất không thay đổi. Những khuôn mặt quen thuộc, những tính tình khó đổi thay, những tên ghép đã đi vào tâm khảm. Chúng ta khó có thể quên được những tên đệm, tên ghép. Tên là người mà, anh em còn nhớ Ngọc (sò) Ngọc (hến), Trung (xạc) Trung (té gồ), Trung (điện), Thành (dế), Dũng (khều), Bình (cồ), Bình (bèo), Năm (cứng), Cầu (gai), Nguyên (cò)….còn nhiều nhiều lắm. Biết bao kỷ niệm đã chôn vùi, nay lại có cơ hội nhắc nhớ lại kể cho nhau nghe.

Rồi từ những tên gọi của Lớp cũng dần thay đổi theo tháng ngày cho thích hợp. Khi chập chững vào chủng viện, anh em cùng năm 1968, được chia thành hai lớp A và B. Mỗi lớp chọn tên Thánh Quan Thầy cho lớp là Don Bosco và Gioan Vianney. Khi vào lớp 8, hai lớp nhập lại một, đổi tên thánh Thánh Quan Thầy, đã chọn Thánh Giuse là Đấng bầu cử.

Sau năm 1975, biến cố lịch sử của quê hương và của lớp, anh em tản mát mỗi người một nơi. Trong những tháng ngày phấn đấu cho cuộc sống. Đây là thời điểm đổi đời của đa số anh em trong lớp. Như những môn đệ được sai đi vào cánh đồng truyền giáo. Anh em đã ra đi và sinh quả dưới nhiều hình thức làm cho gia đình 68 thêm khởi sắc.

Năm 1977, các anh em tỉnh nhà thuộc Long Xuyên- Rạch Giá lại có cơ hội trở về Tân Hiệp tiếp tục tu học. Với con số khiêm nhượng 36 anh em. Tên Thánh Quan Thầy lại một lần nữa tìm về nguồn của cha ông, cha Thánh Lê Bảo Tịnh đã trở thành quan Thày của lớp. Hợp rồi lại tan, sau hai năm tu học, như chim ra ràng mỗi người một nơi. Kẻ đi, người ở, mỗi anh em tìm cho mình cụôc sống riêng.

Không lâu sau, năm 1988, Chúa lại thương dìu dắt, những kẻ đựợc tuyển chọn lại trở về Đại Chủng Viện vào thời điểm chính sách cởi mở. Mối giây liên lạc được từ từ nối lại. Anh em đã đánh hơi qui tụ về. Những anh em tiên phong lại một lần nữa chọn hướng đi cho lớp. Nhớ ngày vào Tiểu Chủng Viên, 14 tháng 8, ngày Giáo Hôi mừng kính Thánh Maximilian Kolbe, mẫu gương của sự hy sinh và hiến thân trong hoàn cảnh mới. Và thế là lớp 68 lại có tên Thánh Quan Thầy mới là lớp Maximilian Kolbe.

Chúng ta không phủ nhận những diễn tiến lịch sử của lớp. Qua 40 năm, cái gì còn lại, cái gì là cốt tuỷ của lớp 68. Đó chính là mối tình huynh đệ và yêu thương trao đổi cho nhau. Đây là món quà quý báu mà chúng ta có được. Tên gọi nào cũng có ý nghĩa và cũng đẹp. Chúng ta chỉ chọn có một. Chúng ta liên kết thành một lớp trong một gia đình. Quan trọng là chúng ta liên kết và gắn bó với nhau để tìm nguồn an ủi và nâng đỡ. Chia sẻ những buồn vui trong cuộc lữ hành.

Những tháng ngày qua, anh em đã có biết bao niềm vui, nỗi buồn được chia sẻ. Nhớ khi anh em họp lớp hàng năm ở mỗi vùng, Miền Tây, Miền Đông, rồi có những liên hoan xum họp trong tiệc cưới, kỷ niệm mừng hôn phối, con cái thành đạt, ngày chịu chức… hoặc những chia sẻ buồn đau khi người thân ra đi. Anh chị em đã gặp gỡ, ủi an, chia buồn và thăm viếng, đây chính là tình chia sẻ. Không còn mối tình nào đẹp hơn.

Trong những tháng ngày đồng hành có thêm những anh em gia nhập vào gia đình 68. Có các anh em như Ruyễn, Ren, Ru, Lạc… cha Chánh, cha Đảm cũng đã chia sẻ những khoảng đường chung với anh em. Cây cổ thụ 68 vẫn vươn lên và hướng tới, hy vọng sẽ tiếp tục trổ sinh hoa trái nhiều hơn nữa trong vườn nho Chúa. Cây càng cao, tàn càng lớn, lá càng xum xuê. Gia đình càng phát triển. Nhìn lại 40 năm về trước, những khuôn mặt bé nhỏ ngây thơ. Chúng ta đã cùng nhau chung sống: cùng ăn, cùng ở, cùng học, cùng sinh hoạt và lớn lên trong tình yêu thương đùm bọc của Giáo Phận Long Xuyên. Cùng được bao bọc, nuôi dưỡng và dạy dỗ bởi các Ân Sư. Bao nhiêu ân nhân đã góp công, góp sức vào vịệc dưỡng dục chúng ta nên người. Những hình ảnh yêu thương của ngày xưa thân ái là những kỷ niệm không phai nhòa trong tâm. Chủng viện như là chiếc nôi cho chúng ta phát triển cả về mọi phương diện Trí, Đức và Dục.

Qua thời gian 40 năm, có đại đa số anh em đã lập gia đình và trở thành cha thành mẹ, thành ông bà nội ngoại, có con cháu xum vầy. Dòng dõi được lưu truyền từ đời này sang đời kia. Cây cổ thụ 68 cứ phát triển mỗi ngày, tre già măng mọc, anh chị em đã tính tuổi ngũ tuần, con cái đang nối gót làm nên lịch sử của lớp. Có nhiều ơn gọi đã nẩy sinh. Các cháu đã trở thành tu sĩ nam nữ, tiếp tục sứ mệnh anh em trao gởi lại.

Có những anh em kiên trì trong ơn gọi thuở đầu, đối diện với những khó khăn và đáp trả tiếng mời gọi của Thày Chí Thánh. Từng bước từng ngày qua sự nâng đỡ, khuyến khích và cầu nguỵện của đại gia đình. Một số anh em đã lần lượt lãnh nhận thiên chức linh mục. Khởi đầu của lớp 68 trổ sinh bông trái là các linh mục: Nguyễn Hoài Thương (1992), Phan Văn đương, Phạm Văn Ái (1993) Phạm Minh Tâm, Âu Thanh Bình, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Hương (1994) Trân văn Đảm, Trần Việt Hùng, Nguyễn Văn Huỳnh, (1995), Đinh Công Oánh (1999), Ngô Quang Trung, Nguyễn Văn Ngọ, Phạm Văn Thành (2000), Nguyễn Trung Chánh (2001), Châu Hoàng Ngọc 2005) và Út Lê Quan Trung (2006). Như vậy chúng ta cũng không phụ lòng Giáo Hội, đặc biệt không phu lòng Giáo phận Long Xuyên và các ân sư.

Bốn mươi năm, một khoảng đường dài. Bốn mươi năm của bao thử thách chất chồng. Bốn mươi năm của xum họp và chia ly. Trong sự lớn mạnh và phát triển đó đã không tránh đựoc những rơi rớt mất mát. Đã có nhứng nhánh cành đã lìa xa. Tình Chúa thương đã gọi về hưởng sự phúc thanh nhàn. Những anh em đã ra đi vĩnh viễn về đời sau: Pet Chu Quang Bính, Mai Văn Chước, Joe Nguyễn Văn Nghiêm, Joe Vũ Quang Trung, Pet Vũ Văn Tự, Pet Nguyễn Văn Ren, Nguyễn Ru. Các anh em đã đi trọn con đường và đã giữ vững đức tin. Hoa quả sẽ trổ sinh.

Lịch sử của Lớp 68 qua các biến cố, trong âm thầm đã có những anh em thu nhặt những hình ảnh, những tài liệu, những thông tin buồn vui, những bài viết, những chia sẻ, những suy tư, đây là một mảnh đất tốt đang có người chăm sóc và vun tưới. Anh chi Đỗ Văn Thục đã là người tiên phong nối kết. Thật vui mừng, anh chị em và các cháu có chỗ tọa đàm và thông tin qua trang mạng Maxkolbe.com. Tiếp theo cháu Túy Hồng, con của anh chi Bình và Phương Dung, con anh chị Thục, còn muốn lập trang Mạng cho các cháu Long Xuyên 68 có chỗ liên lạc và chia sẻ. Thật tuyệt vời.

Những suy tư và sưu tầm được góp nhặt như gia sản của lớp. Những thang Thuốc Bổ Trường Sinh của Đinh Công Oánh, những bài nhạc của Mộng Huỳnh, Nhất Chi Vũ, Quang Hưng., những bài suy tư của Phạm Minh Tâm, Châu Hoàng Ngọc, Nguyễn Văn Thanh, Ngô Quang Trung, Đỗ Văn Thục…hy vọng sẽ còn nhiều bài sẽ được đăng trong trang mạng của lớp để anh em cùng chia sẻ.

Chúng ta mừng thời gian 40 năm là cơ hội của sự liên đới và canh tân. Mọi người mở rộng cánh tay nối kết với anh chị em. Trở về nguồn, mỗi anh chị em chúng ta đã làm nên Lớp Maxikolbe68. Lớp 68 không của riêng ai hay nhóm nào, mà là của tất cả anh chị em. Một suy tư triết học khi luận về cái ghế. Trong chiếc ghế có cả chất thể và mô thể. Cái gì đã làm nên chiếc ghế. Không phải cái chân, không phải bàn toạ, không phải cái dựa, nhưng tất cả thành phần, khi ghép lại, đã làm thành cái ghế. Anh chị em trong lớp 68 cũng vậy, khi quy tụ lại với nhau, chúng ta làm nên Lớp 68. Dù rằng thời gian bên nhau khác biệt, có người chỉ đồng hành vài tháng, vài năm hay lâu hơn. Thời gian dài ngắn trong lữ hành không quan trọng. Điều quan trọng, chúng ta là thành viên của lớp 68 .

Một vài suy tư và gợi nhớ gởi đến anh em trong kỷ yếu mừng kỷ niệm 40 năm. Ước gì tình xưa nghĩa cũ vẫn chân thành. Càng có tuổi, càng cần có những tri kỷ. Anh chị em xum họp một nhà bao la tốt đẹp, bao là sướng vui.

Thay cho lời kết, đọc lời của Thầy khổ tu Thomas Merton trước khi chết (1968), đã khuyên: “Anh em ạ, cuộc đời đơn giản lắm. Chúng ta sống trong một thế giới được Thiên Chúa yêu thương. Ngài hiện diện khắp nơi. Mọi sự đều trong suốt dưới con mắt Ngài. Ngài rực sáng qua thời gian. Đây không phải là chuyện hoang đường mà là sự thật hiển nhiên. Nếu chúng ta phó thác vào tay Chúa và quên mình đi, thì sẽ được xem thấy Chúa thường xuyên. Chúa tỏ mình ra trong mọi sự, trong người khác, trong thiên nhiên và trong các biến cố hàng ngày. Chúng ta chẳng thể sống mà không có Chúa. Anh em chẳng thể tồn tại nếu không có Thiên Chúa.”

Xin Thiên Chúa chúc lành và nguyện thánh Maximilian Kolbe bầu cử cho tất cả gia đình anh chị em trong Lớp 1968.

Trần Việt Hùng