Dường
như đứa trẻ nghìn năm trước
Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta
Khi về râu tóc còn nguyên vẹn
Một ngày loáng thoáng một ngày qua.
(Nguyễn Bắc Sơn)
“Một ngày loáng thoáng một ngày qua” thế mà đã bốn mươi năm kể từ ngày chúng mình đặt chân lần đầu tiên vào cổng tiểu chủng viện Á Thánh Phụng. Tóc bây giờ đã bạc. Tuổi bây giờ đã cao. Và chúng ta chợt nhận ra rằng: “Thu nào tóc bạc òa bay, có con chỉ chỏ mới hay tuổi gìa”.(Nguyễn Đức Sơn)
Bốn mươi năm qua bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Bao nhiêu con nước lớn nước ròng lên xuống trong dòng sông cuộc đời. Bao nhiêu thăng trầm. Bao nhiêu vinh nhục. Chúng ta ở tuổi này đã lớn tuổi hơn phần lớn những vị thày của chúng ta bốn mươi năm trước. Và có lẽ có nhiều kinh nghiệm và từng trải hơn các vị đó lúc còn ở tuổi của chúng ta bây giờ. Nhưng cũng như một câu nói tôi tình cờ đọc được: "LIFE IS NOT A JOURNEY TO THE GRAVE WITH THE INTENTION OF ARRIVING SAFELY IN A PRETTY AND WELL PRESERVED BODY, BUT RATHER TO SKID IN BROADSIDE, THOROUGHLY USED UP, TOTALLY WORN OUT, AND LOUDLY PROCLAIMING: WOW.... WHAT A RIDE !!!"
Thật vậy cuộc hành trình đời người của chúng ta là một cuộc trượt ván thú vị cho dẫu thân thể có bầm dập, và tâm hồn đầy thương tích, nhưng khi vượt qua đoạn đường gian lao vừa qua chúng ta cũng có thể hét lên: WÀO…ĐÃ QÚA TRỜI!!!
Bài viết này như một đoạn hồi ký, một đoạn phim quay chậm, ghi lại khoảng thời gian đã đi qua của riêng tôi, nhưng cũng là một đọan đường dài đã đi chung với anh em lớp 68, đoạn đời đẹp nhất của chúng mình.
THIÊN ĐÀNG TUỔI THƠ
Năm 1965 ba tôi được giải ngũ. Lúc đó gia đình tôi đang sống tại Buôn Mê Thuột. Khi di cư vào Nam ba tôi đang đi lính nên gia đình tôi làm cuộc Nam Tiến dần dần và từ tôi trở xuống mỗi nơi sinh là một cột mốc của cuộc Nam Tiến này. Tôi sinh ra ở Tam Kỳ, Quảng Nam trong lúc ba tôi đang đánh trận ở Sa Hùynh. Tên của tôi là kỷ niệm của trận đánh này. Sau đó là những cuộc di chuyển cùng với sư đoàn 9 ở Bồng Sơn, Phù Cát, Phù Mỹ… và thằng em kế tôi được sinh ra ở Quảng Trị. Tôi nghe kể lại là khi mới sinh ra nó không được khoẻ nên khóc hoài lồi cả rốn. Ba tôi phải đến Đức Mẹ Lavang xin khấn và xin nước thánh từ giếng Đức Mẹ về cho nó uống mới khỏi. Gia đình tôi được ơn riêng của Đức Mẹ Lavang từ năm 1958. Sau đó vì di chuyển nhiều qúa nên ba mẹ tôi phải gởi bà chị cả và ông anh lớn về với cậu tôi ở Cáisắn. Sau đó toàn gia đình định cư ở Dục Mỹ, Khánh Hoà. Suốt thời thơ ấu của tôi là ở đây, nơi có trường huấn luyện pháo binh và bộ binh Đồng Đế. Dục Mỹ là thiên đàng tuổi thơ của tôi.
Khi trí nhớ của tôi bắt đầu ghi nhận được, thì biến cố tôi nhớ nhất là đi đón tổng thống Ngô Đình Diệm ở sân chùa ngoài chợ Dục Mỹ. Ngôi chùa này tôi đã tới nhiều lần với những đứa bạn phật tử. Sân chùa rất lớn và có cây đa cổ cũng rất lớn phủ bóng mát quanh năm. Tôi chỉ còn nhớ loáng thoáng hôm ấy tổng thống Diệm mặc bộ vest màu xám và chống cây ba toong.
Tôi có qúa nhiều kỷ niệm với Dục Mỹ vì nơi ấy tôi lớn lên giữa bao la núi rừng. Gia đình tôi ở trại gia binh nơi tập trung khoảng mấy chục gia đình nằm giữa rừng. Vào thập niên sáu mươi của thế kỷ trước, vùng tôi ở vẫn còn cọp đi săn mồi. Nên mỗi buổi sáng sớm theo chị Hai và chị Tư đi lễ, phải băng qua một cánh rừng tranh, mẹ chúng tôi bắt hai chị mang nắp vung nồi theo để vừa đi vừa gõ cho lỡ có ông ba mươi nào đang rình mồi thấy tiếng động mà bỏ đi.
Qua cánh rừng tranh này là một con dốc cao, khỏi con dốc mới là khu nhà dân và là nơi tập trung của giáo dân giáo xứ Dục Mỹ. Con đường từ nhà tới nhà thờ và trường học là con đường này. Và cũng rất nhiều kỷ niệm với con đường đất đỏ này, một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất là những ngày đầu tiên đi học.
Tôi bắt đầu đi học rất trễ. Khi tôi lên bảy mẹ tôi mới dắt tôi đến trường. Ngày đầu tiên vào lớp tôi bị bọn lính cũ bắt nạt, nên ngay giờ ra chơi đầu tiên là tôi đã trốn học. Hai ngày đầu mẹ tôi không để ý, nhưng tới ngày thứ ba thì mẹ tôi mới nhận ra có chuyện lạ là khi nào đi chợ về cũng thấy tôi ở nhà rồi. Mẹ tôi trồng rau mang ra chợ bán nên đi chợ sớm và dắt tôi theo để tôi đi học, sau đó bà mới đi ra chợ bán rau. Khoảng chừng hai tiếng sau là rau bán hết, bà mua thức ăn mang về. Khi về đến nhà là mới khoảng mười giờ sáng, thế mà tôi đã có mặt ở nhà rồi, có nghĩa là tôi trốn học về nhà. Nghỉ chợ ở nhà canh tôi thì không ổn, mà cứ dắt tôi đến trường rồi đi chợ là tôi trốn về, nên mẹ tôi phải tìm cách để cầm chân tôi ở lại trường.
Hôm ấy như mọi lần, tôi đang lang thang cuốc bộ về nhà sau khi trống vào lớp bắt đầu. Khoảng năm bà trên đường đi chợ mua đồ ăn gặp tôi đang tung tăng trên đường nên chặn tôi lại, rồi mỗi người một chân một tay khiêng tôi ra trường. Vì họ là bạn của mẹ tôi nên họ làm theo như lời mẹ tôi dặn. Tôi dãy dụa một hồi không ăn thua gì bèn xuống nước năn nỉ : ‘các bác thả cháu xuống cho cháu đi’. Họ thấy tôi tỏ vẻ biết điều nên thả tôi ra cho tôi đi, nhưng vừa đặt chân xuống đường xong là tôi chạy thục mạng. Nhưng dễ gì họ chịu thua. Tôi chạy không kịp nên bị tóm lại và điệu đến trường giao cho thày giáo. Hôm ấy tôi bị quỳ trên bục giảng quay xuống cho cả lớp lêu lêu học trò trốn học. Từ đấy tôi mới chịu vào khuôn phép của lớp học.
Khoảng hai năm sau gia đình tôi rời xóm gia binh giữa rừng đổi lên ở trên xóm đạo cách nhà thờ khoảng hơn cây số. Ba tôi thường xuyên phải đi trận, mình mẹ tôi gánh vác hết mọi việc. Tôi tha hồ lêu lổng nhưng không hư hỏng có lẽ nhờ những sinh hoạt đạo trong đoàn Nghĩa Binh Thánh Thể (sau này đổi thành Thiếu Nhi Thánh Thể).
Khuôn viên của giáo xứ Dục Mỹ rất lớn. Từ đường quốc lộ đi vào là con đường trải đá rất lớn với hai hàng dương được trồng thẳng tắp hai bên. Sau hàng dương là hai dãy nhà của trường học. Phía bên phải sau dãy các phòng học là khuôn viên của nhà xứ, với tháp chuông phía trước và nhà xứ xây lùi sâu vào bên trong. Qua khỏi nhà xứ là núi đá Đức Mẹ. Đối diện với nhà xứ một dãy lớp học dài nằm song song phía bên trái. Nhà thờ nằm ngay chính giữa con đường sau khi đi qua núi hang đá Đức Mẹ.
Trong khuôn viên này tôi vẫn nhớ những buổi sáng đi lễ, rồi ở lại đi học luôn, tôi thường chơi đủ thứ trò chơi với bạn bên tháp chuông. Thỉnh thoảng găp cha xứ ngài thấy tội nghiệp cho một đồng ăn qùa. Đồng bạc lúc đó lớn lắm. Năm cắc là đủ một bữa sáng. Nên năm cắc còn lại tôi hay mua đá nhận xịt sirô màu rồi mút, rất đã.
Chị Hai lớn hơn tôi mười tuổi, nên lúc đó chị đã là một thiếu nữ và là ca viên của ca đoàn nhà thờ Dục Mỹ. Đi lễ với chị nên phải ở lại tập hát với chị. Những bài thánh ca đầu tiên tôi học được là những bài nghe ca đoàn họ tập hát. Lúc đó những bài hát của tuyển tập Ca Lên Đi của cha Kim Long đang được ưu chuộng.
Gia đình tôi rời Dục Mỹ khi cô Tám ( thứ bảy của người Bắc) được vài tháng tuổi. Tôi không nhớ đoạn đường Dục Mỹ – Ban Mê Thuột bao xa nhưng tôi nhớ khi đến nơi vào buổi sáng, ngồi trên xe đò nhìn nhà cửa hai bên đường toàn bụi đỏ rất lạ. Sau khi ở đó một thời gian tôi mới thấy bụi đỏ rất phiền vì bụi đỏ khắp nơi nên quần áo không được mặc màu trắng vì chẳng mấy chốc sẽ biến thành màu nâu.
Ở Ban Mê Thuột có hơn một năm tôi chỉ còn nhớ vài kỷ niệm. Kỷ niệm đáng nhớ nhất là lần đầu tiên đi cầu cá. Ở đó họ nuôi cá chép chứ không nuôi cá tra như trong miền nam. Lần đầu tiên ngồi thả bom thấy cá tranh nhau đớp tôi rất khoái. Nhưng sức chứa có hạn nên sau khi thả hết bom trong bụng, có rặn hoài cũng không còn cục nào để thả, cách tốt nhất là chạy ra ngoài lượm ít cục đất khô thả xuống đánh lừa mấy em khờ dại. Vui đáo để. Kỷ niệm vui nữa là ở đây đi bắt dế khó hơn ở Dục Mỹ vì dế nằm sâu trong hang. Muốn bắt là phải mang theo bình nước để đổ vào lỗ cho dế ngộp trồi lên mới bắt được. Thỉnh thoảng đổ hết bình nước mà dế vẫn chưa chịu ngoi lên là phải thay nhau bắt vòi rồng của mình xả nước vào lỗ tiếp mới bắt được anh chàng dế lì đòn.
Gia đình tôi rời Ban Mê Thuột bằng máy bay quân đội hai cánh quạt. Hôm đấy được mặc quần áo đẹp nhất vì vào Sàigòn mà lị! Về thủ đô mà mèng qúa coi sao được! Máy bay cất cánh lên cao dần. Tôi nhìn qua khung cửa sổ nhỏ của máy bay thấy nhà cửa nhỏ dần rồi mất hút trong mây. Một đoạn đời cũ cũng bay hút vào không gian, và đoạn đời mới chưa biết mặt đang dần hiện ra dưới chân trời.
TẾT MẬU THÂN
Năm 1967, tôi đang học Đệ Thất tại trường trung học ở xứ Tân Phú, Tân Bình Sàigòn. Sang đầu năm 1968 tôi được ba cho về ăn tết cũng như thăm mẹ và thăm nhà ở kênh Thày Ký. Gia đình tôi mới về định cư ở đây được khoảng hai năm sau khi ba tôi giải ngũ, nhưng lúc ấy ba tôi làm việc ở Sàigòn nên tôi ở với ba để đi học. Không ngờ chuyến về Thày Ký năm ấy đưa đời tôi sang một hướng mới. Đó là chuyến đi định mệnh.
Tết Mậu Thân chiến tranh nổ ra khắp nơi và là lần đầu tiên dân Sàigòn nếm mùi binh lửa. Tôi bị kẹt lại Cáisắn. Và vì các trường ở Sàigòn đóng cửa một thời gian nên tôi theo đám bạn mới ở kênh Thày Ký ra trường Sao Mai ở phố kênh D đi học. Tiếng là đi học nhưng tôi có học hành gì đâu vì không có tên trong trường. Sáng vui vẻ cắp sách đến trường nhưng cúp cua dài dài theo đám bạn mới đi thục bida. Vậy là đi đứt nửa năm đệ thất nhưng tôi chẳng thấy tiếc rẻ gì vì tính tôi thích rong chơi từ nhỏ. Sau này những bài học trong lớp cũng chẳng quyến dũ tôi bằng những cuốn sách trong cái thư viện bé tí xíu bên cạnh cầu thang nhà học. Những cuốn sách đưa trí tưởng tượng của tôi rong chơi thật xa ngoài khung cửa lớp và xa hẳn với những bài học khô khan.
Nhà tôi ở kênh Thày Ký cách nhà Chú Vũ Văn Tác (bây giờ là cha sở) một lô đất. Chú Tác lúc ấy đang học lớp đệ tứ tại chủng viện Long Xuyên về nghỉ tết, gặp tôi bèn rủ rê tôi đi tu. Tôi cũng chẳng biết tu hành nó ra làm sao nhưng nghe rủ rê ham vui cũng ừ đại. Thế là tôi được giới thiệu vào cha xứ Nguyễn Hưng để khảo kinh Latinh. Tôi vốn là cậu giúp lễ ở trường Nhân Vị , Phú Nhuận trong hai năm cuối tiểu học hồi mới ở Buôn Mê Thuột về Sàigòn, nên thuộc kinh giúp lễ nằm lòng, dĩ nhiên tôi đọc vanh vách. Cha xứ Thánh Gia khoái chí nói: ‘con ở đây cha giới thiệu đi thi tuyển’. Một khúc quanh mới của cuộc đời tôi bắt đầu bằng chuyện tình cờ như vậy. Và cũng từ đó kênh Thày xứ Thánh trở thành quê hương của tôi.
THI TUYỂN
Nếu tôi nhớ không lầm các tuyển sinh năm 68 được gọi đi thi khoảng đầu tháng 6. Kênh Thày Ký năm đó gởi đi một quân số rất hùng hậu là 12 mạng. Tôi không nhớ rõ ai dắt chúng tôi đi vì lúc đó tôi chưa quen một tên nào trong số 12 mạng đi thi tuyển năm ấy ngoại trừ Phạm Văn Tiến là anh em con bá con dì (hay con bạn dì theo kiểu nói miền Nam) với tôi.
Vì năm 1967 không có thi tuyển nên năm 68 con số tuyển sinh tham dự lên đến gần 500 mạng. Tôi còn nhớ số báo danh của tôi là 89 và hình như số báo danh của Trần Việt Hùng là 80. Khuôn mặt của cha Hùng bây giờ và của chú Hùng 40 năm trước tôi thấy cũng không có gì thay đổi, một khuôn mặt hiền lành, chất phác. Và cũng vẫn ít nói như thuở ấy. Tôi không hiểu sao bao nhiêu người vần H đi thi tuyển năm đó mà khuôn mặt của chú Hùng lúc đấy để lại ‘ấn tượng’ mạnh trong tôi đến như vậy. Một chú vần H tôi nhớ nữa là Huy. Tôi không nhớ tên họ và tên đệm của hắn nhưng bị ‘ám ảnh’ bởi tính chọc phá nghịch ngợm của hắn. Năm đó vì tuyển sinh đông qúa nên có một số phải nằm dưới sàn nhà. Hắn là một trong những tên không may ấy. Tôi hên được nằm trên giường, nhưng xui là nằm cạnh hắn. Tối nào hắn cũng từ dưới sàn co hai chân dưới lạch giường của tôi rồi nâng bổng cả lạch lẫn người lên cao và thả xuống. Hắn rất bặm trợn nên tôi yên lặng chịu đựng không dám gây sự lại và một phần cũng sợ bị rớt nếu đánh nhau với hắn trong phòng ngủ. Tuy chỉ có hai tuần ‘quen biết’ hắn vì hắn bị rớt đài, nhưng tôi vẫn nhớ mãi kỷ niệm và khuôn mặt láu lỉnh của hắn đến bây giờ.
Tôi cũng nhớ hình như năm đó Phạm Văn Ái mang số báo danh đầu tiên và Nguyễn Văn Yêu của Thày Ký mang số báo danh sau cùng. Và một trùng hợp nữa là trong đám thi tuyển có cả Tây lẫn Pháp, và cả hai cùng đậu thi tuyển tuy ông Tây thì to con, còn ông Pháp lại lùn tịt.
Các bài thi cũng không có gì dữ tợn lắm nên không để lại ấn tượng gì trừ phần thi trắc nghiệm trí thông minh. Có nhiều câu hỏi thú vị trong phần trắc nghiệm này nhưng tôi còn nhớ hai câu. Câu đầu là “một ký chì và một ký bông, ký nào nặng hơn?” Và câu thứ hai là “sữa con bò vàng thì màu trắng vậy sữa con bò đen thì màu gì?” Tôi không nhớ câu trả lời của tôi cho câu trên là gì nhưng tôi còn nhớ mãi câu trả lời của tôi cho câu sau là “màu trắng đục”. Tôi thêm chữ ‘đục’ vào là để cho chắc ăn vì biết sữa màu trắng đục chứ không trắng ngần. Không biết vị giám khảo lúc chấm bài của tôi có phá lên cười hay không…
Sáng hôm bế mạc khóa thi, trước lúc lên đường, anh Nghiêu con cha Thản, là anh ruột của Hân (Vũ Văn Minh) ghé vào tai tôi nói nhỏ: “cậu đậu rồi mà đậu cao nữa nhưng đừng nói cho ai biết bây gìơ nhé”. Anh Nghiêu là bạn học của anh ruột tôi nên mới thiên vị báo cho tôi biết trước như vậy. Tôi không nhớ tên nào có nhiệm vụ mang phong bì kết qủa về cho cha xứ năm ấy nhưng tôi không nôn nao nữa vì biết mình đậu rồi. Mà gỉa sử có tò mò mà bóc phong thư ra coi thì cũng chẳng thằng nào hiểu gì vì kết qủa được viết bằng tiếng Latinh. Tên của những tuyển sinh đậu năm đó của kênh Thày Ký là Trương Văn Chủng, Hoàng Văn Đền, Trương Văn Hoan, Nguyễn Văn Hùynh, Nguyễn Văn Ngọ, Phạm Văn Thành và Phạm Văn Tiến. Vậy là có hai tên họ Trương, hai tên họ Nguyễn, và hai tên họ Phạm. Lòi ra tên họ Hoàng đứng lẻ loi. Và hắn cũng mãi lẻ loi như vậy cho đến bây giờ.
Sau khi biết kết qủa thi, những chú “tân chủng sinh” được gia đình lo đưa đi sắm vali, mùng màn, quần áo, đồ dùng cá nhân, chuẩn bị nhập học. Một cuộc đời mới bắt đầu.
Á THÁNH PHỤNG
Buổi tựu trường đầu tiên của dân Thày Ký có nhiều chuyện đáng nhớ. 7 tân chủng sinh của Thày Ký và 1 tân binh của phố kinh D, Vũ Văn Minh ( Hân), được đàn anh Nguyễn Văn Bội ( Bình Định) lớp 65 và Đỗ Văn Hiên lớp 66 thuê xe lam chở đi. Chiếc xe lam cũ chắc vì không chịu nổi sức nặng của bao nhiêu chăn mền quần áo đồ dùng cá nhân của gần một tiểu đội chủng sinh nên bò tới Sáu Hậu gần đầu kinh F thì nằm ụ. Thế là chuyến xuất hành với bao hào khí ngút trời xẹp như trái bóng xì hơi. Trong lúc ngồi tán gẫu chờ chủ xe sửa máy, đồng chí Bội buồn tình xuống bờ sông lấy ít đất dẻo lên thêm dấu hỏi vào bảng số xe tôi nhớ bắt đầu bằng hai chữ IA.
Tuy đầu không xuôi nhưng đuôi vẫn lọt. Có mặt đúng ngày tựu trường 14 tháng 8 năm 1968. Vì hai tuần thi tuyển đã quen chỗ nên việc ổn định chỗ ở phòng ngủ cũng không khó khăn gì. Chiếc mùng và cái mền lần đầu tiên được mắc vào chiếc giường ở phòng ngủ B năm 1968 bắt đầu đời chủng sinh tôi vẫn còn giữ mãi cho đến những năm giúp xứ ở Thày Ký. Chúng theo tôi từ Châu Đốc, lên Long Xuyên, về Rạch Gía, rồi Đài Đức Mẹ Tân Hiệp. Tính ra cho đến năm rời Thày Ký đi vượt biên bộ mùng mền đó theo tôi gần tròn 13 năm của đời chủng sinh. Sau này chỉ còn cái mùng cũ theo tôi qua các nhà tù đến đầu năm 1985.
Ngày khai giảng niên khoá 68/69 là ngày lễ Đức Mẹ Mông Triệu 15/8/68. Hôm đấy lần đầu tiên các tân binh mặc bộ đồng phục trắng từ trên cổ trắng xuống tới chân: áo trắng, quần trắng, giầy Bata trắng. Cái đôi giầy trắng này cũng làm tốn nhiều tiền để bảo quản. Tôi không nhớ mất bao nhiêu tiền cho ‘tiệm tạp hóa’ (bên cạnh cầu thang lên phòng các cha của toà nhà chính) để mua hộp thuốc làm trắng vải giầy trông như lọ kem đánh răng mà khi bóp ra bôi vào giầy nó lòi ra một đoạn bột trắng như bột khoai mì. Có một sự cố quan trọng liên quan tới đôi Bata trắng này ở phòng ngủ C. Số là có chú nào đấy, ban đêm mót tiểu qúa nhưng không dám ra nhà vệ sinh vì sợ ma hay vì làm biếng, bèn trút đại bầu tâm sự của mình vào đôi giầy của tên hàng xóm. Sáng hôm sau khổ chủ mới phát hiện ra thì đã muộn. Thày giám thị cũng vô phương điều tra ra thủ phạm. Vụ án bị chìm xuồng. Đọc đến đây nếu ai là thủ phạm của vụ án này nên thành thật khai báo với mọi người để công lý được vãn hồi và ai đã là nạn nhân của vụ án này cũng hô lớn tiếng lên để anh em biết vì 40 mươi năm qua nhiều ‘cụ’ đã quên mất tiêu rồi.
Niên khóa 68/69 có bốn thầy giúp chủng viện là thầy Tấn, thầy Cao, thầy Luận, thầy Nết. Sau này chỉ có Thầy Tấn là ăn mày cơm Nhà Đức Chúa Trời trọn vẹn. Thầy Tấn và Thầy Luận phụ trách thánh nhạc. Thầy Tấn đánh nhịp lả lướt nhưng bình thường, còn Thầy Luận có lối đánh nhịp rất ‘ấn tượng’. Thầy đánh nhịp bằng cả hai cánh tay đưa lên như gà đập cánh làm các chú tức cười nhưng không tên nào dám cười to vì ở trong nhà nguyện. Thày Cao phụ trách ‘tiệm tạp hóa’ ở chân cầu thang lên phòng ngủ B. Cũng ở cái tiệm này mà Phùng Văn Ngọc có cái hỗn danh Ngọc Sò. Số là hồi ấy có loại dép Nam Vang nổi tiếng hiệu Con Sò. Hôm ấy Phùng Ngọc đến đặt mua dép dặn thày Cao nhớ mua cho em đôi dép con sò. Câu nói này lọt vào tai Đỗ Việt nên cái tên vua đặt tên tục và nói bậy này bèn cho Ngọc cái hỗn danh Sò đi kèm. Tọi nghiệp Châu Ngọc sau này bị gọi là Ngọc Hến để đối lại tên với Ngọc Sò. Sò và hến làm gì có ngọc, chỉ có con trai biển mới có ngọc. Sò và hến nhờ hai Ngọc lớp ta mà trở nên có gía.
Tôi được xếp nằm ở phòng ngủ B bên cạnh Khả Ông Địa vì lúc đó hắn mũm mĩm mặt tròn vo như ông địa nên có cái hỗn danh này. Khả có cái tật dễ thương là dù trời nóng thế nào cũng phải đắp mền mới ngủ được nên nhiều bữa vừa đắp mền vừa quạt vì nóng chịu không thấu. Khả cũng có thói ăn vặt nên thường dấu đồ ăn trong vali ở gầm giường tối nằm nhâm nhi trước khi ngủ. Và vì tôi là hàng xóm nên thỉnh thoảng cũng được chia phần. Tôi nhớ có lần hắn cho tôi miếng bánh tráng và vì ăn vụng nên phải đắp mền nhai nhè nhẹ, nhưng dù đã cẩn thận khẽ khẽ nhai từ từ mà vẫn nghe tiếng bánh tráng rộn ràng kêu trong miệng. Chỉ sợ thày giám thị nghe thấy thì tiêu tùng. Nhưng đó là vì ăn vụng nên sợ đấy thôi chứ làm sao mà giám thị nghe được. Khả rời chủng viện sớm nhưng tôi vẫn nhớ hắn hoài vì những kỷ niệm thật đẹp còn đọng lại trong đời.
Để dễ sinh hoạt lớp được chia thành từng tổ. Tôi không nhớ những tên nào trong tổ sinh hoạt nằm đầu tiên với tôi, nhưng chỉ còn nhớ Lâm Gìa. Hắn có tục danh này vì cái giọng thuốc lào của hắn, khàn khàn giống Thanh Hoài. Và vì hắn là Lâm Gìa nên Trần Lâm được gọi là Lâm Non. Mà Trần Lâm trông cũng non nớt, người nhỏ nhắn, nói năng nhỏ nhẹ. Khắc hẳn Lâm Gìa rất cụ và nói năng sừng xỏ. Tôi nhớ Lâm Gìa trong tổ sinh hoạt với tôi vì bị hắn mắng một câu rất ấn tượng. “Cái thằng này mặt trông như vú bà đẻ”. Số là sau khi ăn cơm chủng viện vài tháng thì mặt tôi cũng tròn như ông địa mà ít phơi nắng nên mặt vừa trắng vừa có gân xanh nổi lên giống bầu sữa của các bà đẻ tôi đoán vậy. Không biết tên Lâm Gìa này nhìn vú bà đẻ bao giờ mà nó có cái so sánh độc đáo qúa trời. Đúng là Lâm Gìa.
Niên khóa đầu này các thày đua nhau kể chuyện và đọc chuyện cho các chú nghe. Thày Cao hay đọc chuyện của Duyên Anh và thày Nết thì kể chuyện trinh thám. Suốt năm học tôi chơi nhiều hơn học vì đã học hầu hết những môn học trước khi vào chủng viện. Và cũng vì ỷ y như vậy nên tôi bị mất căn bản về sinh ngữ. Nhưng thực sự phương pháp sư phạm lúc ấy không hấp dẫn, chủ yếu bắt học sinh thuộc lòng, do đó ai có trí nhớ tốt thì trả bài giỏi và được điểm cao. Đây là một thiếu sót lớn trong phương pháp giáo dục này. Sau này bao nhiêu năm học tiếng Anh, tiếng Pháp trong chủng viện mà nghe người nước ngoài nói nghe không thủng những câu chào hỏi thông thường và trả lời thì rặn mãi không ra một câu, dù trong bụng vốn ngữ vựng không ít.
Cha “Giặc” Thịnh phụ trách sinh hoạt và văn nghệ, nên con đỡ đầu là Thống rất oách được ôm nguyên dàn trống tập đánh trong phòng của bố. Quang Hưng có khiếu nhạc ngay từ nhỏ lại ở gần cha cố Lộc nơi ‘bộ chỉ huy’ của đại đội lính điạ phương quân gọi là “Lính Cha Lộc” nên học được nghề đàn của các ông lính kiểng này trước khi vào chủng viện nên cũng được ‘xung’ vào ban nhạc của cố Thịnh ngay từ đầu và được cho giữ cây mandolin điện. Cố Thịnh có cây Hạ Uy Cầm điện biểu diễn chung với ban nhạc cây nhà lá vườn làm lé mắt bao chú bé chưa bao giờ được nhìn thấy các nhạc cụ ‘hiện đại’ này.
Quang Hưng da trắng, mắt mơ màng với cặp lông mi dài rất đẹp. Hắn trông hiền lành ít nói, nhưng một bụng tiếu lâm ‘mặn’ mà tôi đoán hắn nghe lóm được từ những ông Lính Cha Lộc. Vì cùng vần H nên tôi nằm gần hắn trong các phòng ngủ ngay từ đầu. Hắn có một thói quen thật độc đáo là khi thay quần dài, áo sơ mi đi ngủ, hắn trải bộ quần áo này trên đình mùng. Và lần lượt hết bộ này đến bộ khác cho đến khi hết đồ thay, hắn sẽ vòng lại ngửi xem bộ nào xem ra còn thơm tho mang ra mặc tiếp. Khi nào mà không còn ngửi được nữa hán mới mang đi giặt.
Những kỷ niệm của ba năm Châu Đốc đối với tôi là những buổi dã ngoại, vì hầu như những buổi hóng mát ngoài trời này thường kèm theo những ‘sự cố’. Năm đầu tiên đi Núi Sam về có một số chú bị kỷ luật vì hái trộm trái cây của nhà chùa trên núi. Nhưng sự cố này chằng nhằm nhò gì với năm sau đi dã ngoại với nhạc sĩ kiêm ngáy sĩ “Chế Mân”. Các chuyện khác anh em có thể quên, nhưng chuyện bị ăn đòn tại ‘mặt trận’ thì không bao giờ quên được. Hôm ấy tôi cũng được nhận ba roi. Cái đau của đòn thì hết vài tiếng sau đó, nhưng cái đau của việc bị đòn oan thì còn mãi đến bây giờ. Hôm đó không có lệnh lạc gì được đưa ra bảo rằng không đi chơi qúa xa nên các chú cứ lân la bắt dế lang thang quanh các ruộng dưa. Và vì không nghe tiếng gọi của thủ lĩnh nên ngài mới phát cáu mà tập họp khẩn cấp, và sẵn có giây mây hình như của Hoàng Anh cắt được nên hầu hết đều được ăn đòn. Tôi nghiệp nhất là Thành ‘Đầu Dế’ vì tay giữ dế vừa bắt được để trên đầu mà vì bị đòn đau nên bóp chặt qúa làm con dế chọet cả bụng ra mà chết. Từ đó hỗn danh đầu dế đi theo Thành nhà ta cho đến giờ.
Điểm tên lớp với những hỗn danh thì phải bắt đầu với những anh em trùng tên. Vì trùng tên nên phải có nickname để phân biệt. Trước hết là lục Bình. Người có hỗn danh đầu tiên là Âu Bình được gọi là Bình Sữa vì cụ này mang sữa bột gói vào giấy rồi lấy mông ép lên làm thành thứ bánh sữa không nơi nào có và lai rai xơi trong giờ học bị thày bắt gặp nên thành chết tên luôn. Người thứ hai là Phạm Công Bình được gọi là Bình Bèo. Tôi không biết lịch sử của tên gọi này. Nhưng hắn là tay chơi bóng rổ thiện nghệ và thảy banh vào rổ đẹp tuyệt cú mèo. Kế đến là Nguyễn Bình tự là Bình Leo vì tên thánh là Lê-Ô. Rồi tới Bình Cồ tức Antôn Trần Văn Bình sau này được cha Thử gọi là ti vi Bình vì hắn viết tắt tên họ và tên đệm T.V. Bình Cồ và Nam cùng quê nên hai tên này hay đánh nhau với đồng hương Tuyên sạc lớp 66. Rồi tới Phạm Văn Bình tức Bình Ròm tự là Bình chửi tục vì mở miệng ra là sổ tiếng Đức. Và tên chót là Trần Văn Bình đánh pingpong rất cừ nhưng chỉ ở chủng viện một thời gian ngắn. Ngày đó hắn nói giọng miền nam. Sau này gặp lại hắn lại nói giọng bắc kỳ.
Những tên trùng nhiều thứ hai là Trung. Ngô Trung được gọi là Trung Bắp vì dân bắc kỳ gọi bắp là ngô. Ngô Trung những năm ở Châu Đốc có một kỷ niệm không thể nào quên và bây giờ vết nám trên má vẫn còn để lại như một nhắc nhớ cho ‘ông thần lửa’ này. Đó là năm lớp 8, lớp niên trưởng. Lúc đó tôi cũng nổi tiếng với biệt danh ‘ba tầu phễu’ vì vừa béo phì và cái thùng nước lèo bự nhất lớp lúc đó. Năm ấy tôi làm quản trò cho một buổi lửa trại. Trung Bắp làm quản lửa. Tối đó sau khi tôi gọi lửa lên thì quản lửa Trung Bắp được khiêng ra đứng trên một cái kiệu , mặc áo đỏ, râu gỉa xồm xoàm vừa đi vừa thổi lửa phù phù trông hùng dũng qúa xá, bỗng tự nhiên mặt ông thần lửa bốc cháy thế là cái kiệu thần lửa trở thành băng ca đưa ông thần đi chữa lửa. Sau này mới biết ông thần lửa ngậm dầu phun lửa nhưng chẳng may dầu bám vào râu bông gòn nên bắt cháy. Vết phỏng vẫn còn dấu nám trên mặt ông thần này đến bây giờ. Trung thứ hai nổi tiếng không kém là Lê Trung còn gọi là Ma-sơ vì ‘cô nàng’ này điệu không thể tả được. Lúc ở Châu Đốc tôi chưa quen lắm với cô nàng nhưng khi lên lớp 9 thì tôi ngồi phía sau bàn cô nàng trong giờ học. Thỉnh thoảng chán học chọc cô nàng để cô nàng quay xuống nguýt ngeó cũng đỡ chán. Trong một nơi toàn đực rựa thì sự hiện diện của cô nàng này cũng làm cho lớp học thêm tươi vui. ‘May mà có ..ma-sơ ..đời còn dễ thương’. Đào Quang Trung được gọi là Trung cận vì đeo kiếng rất sớm. Hắn học giỏi, thông minh. Ra năm lớp 8. Nguyễn Quang Trung kênh C có hỗn danh là Trung té-gồ. Tôi chẳng nhớ xuất xứ của hỗn danh này nhưng nhớ Trung té-gồ có giọng nói khàn khàn và hai mắt không nhìn về một hướng. Hiền lành, dễ thương. Nguyễn Quang Trung K.G2 được gọi là Trung Sạc vì được cử làm nghề điện. Sau này gia đình dời lên Sàigòn lập nghiệp. Tôi có tới nhà hắn ở Sàigòn một lần trong một kỳ hè. Học giỏi, chịu khó. Tôi không nhớ hắn ra vào năm nào. Cùng quê G2 có một Quang Trung nữa là Trung Soái, đã về hưởng nhan thánh Chúa.
TÊRÊXA LONG XUYÊN
Đựơc về Long Xuyên học chung với các lớp đàn anh bỗng tự dưng thấy mình lớn hẳn ra. Năm đầu tiên ở Long Xuyên là niên khóa 71-72.
Chủng viện nằm trên trục lộ chính đông tây của thành phố mà các trường trung học nằm ở hai đầu. Vì thế mà sinh ra lắm chuyện. Ở vào độ tuổi dậy thì. Trái tim đã biết rung động trước các con cháu của Evà. Thân xác đã bắt đầu rạo rực mơ hồ về phái tính. Vậy mà các tà áo trắng nữ sinh cứ phất phơ bay ngang trước cổng chủng viện buổi sáng lúc đến trường và buổi chiều lúc tan trường như lời một bài hát ‘một sáng tung bay tà áo trắng ngập đường’ làm sao các chú không đứng ngẩn ngơ ‘trông vời áo tiểu thư’. Và thế là có lệnh cấm mở cửa sổ phòng ngủ trong các giờ cao điểm. Dẫu vậy tuy cửa sổ thì đóng im lìm nhưng cửa lòng lại thênh thang mở ra bao nhiêu là ‘mộng ngoài cửa lớp’.
Năm đầu tiên có một kỷ niệm tôi còn nhớ là được ra nhà thờ chính tòa hát lễ. Tuy chỉ cách một mặt đường nhưng là cả một thế giới đang chờ. Chiều hôm đó các chú xôn xao bận rộn đánh giày, ủi quần áo cứ như là đi dự dạ tiệc. Ôi dễ thương chi lạ.
Những buổi chiều cuối tháng khi các rạp hát đổi phim họ thường dùng xe lam hay xe “đa-su” gắn loa phóng thanh đi quảng cáo phim mới chung quanh các khu phố. Dạo ấy phim kiếm hiệp tàu đang thịnh hành. Và tài tử Vương Vũ, Khương Đại Vệ đang ăn khách và trở thành thần tượng của nhiều chàng mới lớn. Tôi còn nhớ Thống và Tuyến vì mê các tài tử Hồng Kông này nên may bộ quần trắng áo hồng mặc. Lúc đó hai chàng này trông cũng giống thần tuợng của họ lắm lắm. Và cũng vì phim võ hiệp tàu này mà chàng Nguyễn Văn Tốt bị cho về nhà ăn cơm với ba má. Số là khi nghe loa phóng thanh của rạp hát quảng cáo phim Tinh Võ Môn hấp dẫn qúa chời nên chàng ta lén ra ngoài giờ ngủ trưa để coi phim. Chắc chàng ghiền phim kiếm hiệp này đã lén ra ngoài coi phim nhiều lần rồi nhưng lần nào cũng trót lọt. Nhưng chẳng may cho chàng lần này chàng đi đêm lại bị gặp ma. Số là cha Nguyễn Văn Việt có việc phải ra phố lại tình cờ vào lúc tan xuất phim bắt gặp chàng ta đang từ trong rạp bước ra. Do đó cuối tháng chàng được cha giám đốc cấp giấy phép nghỉ dài hạn về nhà ở với ba má. (câu chuyện này tôi ghi lại nội dung chính tôi còn nhớ được, chi tiết có thể sai hoặc thiếu sót xin bạn Tốt lượng tình tha thứ nhé).
Thời gian ở Long Xuyên vui nhất là dịp chuẩn bị lễ Giáng Sinh. Năm nào cũng có tổ chức thi viết báo tường và triển lãm hội chợ. Đây là thời điểm các thiên tài văn chương, hội họa mọc ra như nấm. Thôi thì văn chương thơ phú cứ ào ào tuôn ra để làm đầy tờ báo. Và các tác phẩm hội họa cũng tràn lan. Ngoài các chàng họa sĩ thứ thiệt, các họa sĩ ‘nghiệp dư ‘ như tôi cũng răn được một ‘bức tranh’ để triển lãm. Ngoài ra còn các tác phẩm thủ công bằng gỗ hay tre trúc cũng được các nghệ sĩ ‘ưu tú’ hoặc ‘xuất sắc’ tạo nên. Bầu khí sáng tác thật sôi động và hào hứng. Người người thi đua. Nhà nhà thi đua.
Cùng với bầu khí sáng tác tưng bừng là công tác trang hoàng chủng viện và làm hang đá. Mỗi lớp phụ trách một phần. Năm vui nhất là năm 72 dịp kỷ niệm 150 (???) ngày sinh nhật của chị thánh Têrêxa. Lớp 68 phụ trách trang hoàng mặt tiền chủng viện bằng những ngôi sao kết chữ. Lớp 66 phụ trách vẽ hình chị thánh và làm hang đá. Và lớp 65 phụ trách làm sân khấu cho buổi văn nghệ giúp vui cho dịp đại hội phụ huynh chủng sinh địa phận chung cho cả hai tiểu chủng viện Châu Đốc và Long Xuyên.
Nhờ những dịp này một số anh em có năng khiếu về văn chương, hội họa, cũng như những anh em có tài tổ chức và lãnh đạo được dịp phát triển năng khiếu thiên phú của mình. Mới đây tôi trên chuyến bay dài tôi có dịp coi một phim tài liệu với tựa đề “What makes us a human” thật gía trị. Các nhà khoa học và nhân chủng học tìm cách giải mã bí mật gì làm cho con người khác con vật. Khảo sát giống khỉ Chimpaze họ hàng gần nhất với con người trong hệ di truyền (98% DNA giống con người) người ta thấy rằng con người và khỉ Chimpaze khác nhau thật lớn ở tương quan tổ chức và liên đới xã hội. Chúng ta nhờ biết học hỏi và trao đổi kiến thức cho nhau nên bộ óc của chúng ta phát triển vượt bậc chẳng những về kích thước (10 lần lớn hơn các con vật cùng kích cỡ) mà còn ở mức độ phức tạp và tinh tế (triệu lần hơn loài vật). Khỉ Chimpaze cũng đã biết ‘phát minh’ những dụng cụ để lấy thức ăn hay khám phá ra cách để kiếm ăn nhưng không biết trao đổi những phát minh hay khám phá này cho nhau, do đó con người sau cả triệu năm tiến hóa đã trở thành con người tạo ra những đô thị vĩ đại đòi hỏi một trung tâm đầu não điều hành mọi dịch vụ phức tạp cho cả triệu con người mỗi giây, trong khi khỉ Chimpaze vẫn ở trên cây như tổ tiên của chúng hàng triệu năm trước.
Nhờ coi phim tài liệu này tôi thấy chúng ta cần tri ơn Đức Cha Ngữ và các cha giáo vì các ngài đã tạo nên một môi trường thuận lợi để chúng ta có cơ hội học hỏi lẫn nhau nhờ vậy chúng ta có cơ hội phát triển tài năng của chúng ta. Bộ óc của chúng ta giống nhau. Nhưng vì ở môi trường xã hội khác nhau mà nó phát triển khác nhau. Câu tục ngữ ‘học thày không tày học bạn’ thật đúng và thật thâm thuý. Không có môi trường thuân lợi của chủng viện chắc chắn nhiều khả năng trong chúng ta không được dịp khai mở. Nhất là nhờ môi trường xã hội thật lý tưởng mà khả năng hướng thiện, khả năng học hỏi lẫn nhau, khả năng giúp đỡ lẫn nhau được phát triển nhờ thế chúng ta đều nên người hữu dụng cho gia đình, xã hội, và giáo hội. Như tôi được biết thì đây cũng chính là mục đích Đức Cha Nguyễn Khắc Ngữ nhắm đến khi thành lập các chủng viện cho địa phận. Chúng ta được phát triển toàn diện về cả ba mặt thể dục, trí dục, và đức dục. Nên càng được ở trong chủng viện càng lâu thì chúng ta càng phải biết ơn và sống xứng đáng là Người hơn.
TÊRÊXA RẠCH GÍA
Lớp 68 là lớp ‘định mệnh’ của những buổi giao thời. Đáng lẽ chúng ta được thi tuyển vào niên khoá 67-68 thì chủng viện Châu Đốc quyết định bỏ lớp đệ bát nên không thi tuyển năm đó mà dời đến năm sau, nên lớp chúng ta là lớp đầu tiên học thẳng lớp đệ thất. Rồi cuối niên khoá 73-74 địa phận quyết định dời tiểu chủng viện Têrêxa về Rạch Gía. Nên lớp chúng ta là lớp 12 đầu tiên ở Rạch Gía (niên khóa 74-75) và cũng là niên khóa cuối cùng.
Có vài chuyện đáng ghi lại về năm cuối cùng của đời tiểu chủng sinh này. Nhiều anh em mình không vui khi về Rạch Gía là phòng ăn được chia ra hai phần cách biệt: một ‘phòng ăn các cha’ và một ‘phòng ăn các chú’. Chỉ có cha giám luật Vũ Hồng Nho ăn cơm chung với các chú, còn tất cả các cha giáo ăn ở phòng riêng của các cha. Tôi chẳng hiểu lý do tại sao lại phải chia ra như vậy, có lẽ là các cha giáo ăn chung cách biệt khỏi các chú thì ăn uống được tự nhiên hơn khi phần ăn của các ngài khác hẳn phần ăn của các chú. Điều này thì cũng dễ hiểu thôi, nhưng lúc đó chúng ta còn qúa trẻ và bồng bột nên coi đó là một xúc phạm vì bị ‘phân biệt đối xử’. Và đây cũng là khởi đầu của những chống đối ngầm của lớp với ban giáo sư, đặc biệt cha giám luật Vũ Hồng Nho.
Cha Nho là người lý tưởng. Ngài khởi xướng việc tự lực cánh sinh theo mẫu nông trại tự cường của nước Israel trong thời gian đầu khi trở về Palestine để tái lập quốc gia Do Thái. Họ thành lập những nông trại để có thể tự cung cấp thực phẩm và rau qủa mà không phải lệ thuộc vào dân Palestine và dân Ả Rập thù nghịch lúc nào cũng tìm cách cô lập và bứng họ khỏi vùng đất họ mới chiếm lại được. Tôi vào nhóm nông trang này của cha Nho. Buổi chiều vào giờ chơi thể thao, thì tôi và một số anh em khác đi cuốc đất làm vườn. Sau vài tuần vỡ hoang, tôi nhớ chúng tôi trồng được vài luống cà chua èo ọt vì đất toàn đá dăm còn sót lại của bãi vật liệu xây cất chủng viện. Chiều nào cũng xách nước tưới rau cũng là một cái thú, nhất là nhìn những cây cà chua èo ọt của chúng tôi lớn dần rồi sinh hoa kết trái. Tôi nhớ khi anh em lớp trở về sớm để học thi tú tài tôi được hưởng hoa qủa của mình làm ra. Món cà chua dằm đường ăn ngon đáo để, nhất là cà chua tươi vừa chín cây.
Từ khoảng giữa năm học, cha Nho bị anh em lớp tẩy chay không nói chuyện. Sau giờ ăn tối anh em thuờng tụ họp theo từng nhóm nói chuyện gẫu. Nhưng mỗi khi ngài đến nhóm là anh em lẳng lặng bỏ đi. Tình hình căng thẳng này kéo dài nên cha Nho gọi từng người lên để tìm hiểu ai là người cầm đầu phong trào chống đối ngầm này. Sau đó trong một buổi huấn đức một cuộc tranh luận nổ ra giữa cha Nho và Chu Quang Bính. Cha Nho nóng đập tay xuống bàn, Bính ta cũng đâu chịu thua đập bàn lại. Dĩ nhiên người thua là học trò. Công bằng mà nói thì bầu khí của chủng viện khi dời về Rạch Giá căng thẳng hơn khi ở Long Xuyên. Rất tiếc thời gian qúa ngắn (tháng 8/74 tới tháng 3/75) để đánh giá về nó.
Năm này cũng là Năm Thánh và Đức Cha Ngữ dùng chủng viện làm nơi hành hương cho toàn địa phận. Vì là lớp đàn anh nên lớp bàn tán rất sôi nổi về ngày hành hương tổ chức ra sao và làm gì. Tôi còn nhớ năm đó Đỗ Thuý và Vũ Văn Lự đề nghị làm tấm bưu thiếp trắng đen có hình của chủng viện và hàng chữ kỷ niệm năm thánh. Tấm bưu thiếp này được anh em trong lớp mang đi bán cho khách hành hương. Và cũng vì việc ‘gây quỹ’ này mà một số anh em không được gọi về học Triết ở Tân Hiệp sau này.
Khác với hai chủng viện ở Châu Đốc và Long Xuyên, Chủng Viện Rạch Gía nằm sâu vào bên trong. Từ ngoài đường chính có một con đường trải đá đi vào khoảng một cây số mới tới khuôn viên của chủng viện. Lúc đó khi đi trên con đường chính từ xa đã thấy toàn khu chủng viện đồ sộ dù nó nằm sâu vào bên trong. Năm 2005 trên đường từ Gò Quao về Long Xuyên, Đại có chở chúng tôi ghé thăm Rạch Gía. Đi ngang qua khu chủng viện nhưng không còn nhìn thấy nó đâu nữa vì toàn thể khu đất trống trước chủng viện đã bị chiếm và nhà cao tầng mới mọc lên che kín hết.
Gần con đường chính là một viện nuôi trẻ mồ côi và viện dưỡng lão chăm sóc những người gìa neo đơn không thân nhân với dãy nhà trệt quay ra phía con đường trải đá dẫn vào chủng viện. Tôi còn nhớ mỗi cuối tuần được phép ra thăm viện mồ côi và đưỡng lão này. Tôi không nhớ lắm viện dưỡng lão, nhưng vẫn còn nhớ khuôn mặt của các em bé trong những chiếc giường cũi có chắn song giơ tay ra đòi bế khi có khách tới thăm. Hình như chỉ có một sơ coi khoảng hai ba chục em nên không có giờ chăm sóc bồng ẵm từng em do đó các em rất thèm được bồng ẵm. Không biết số phận của các em bé đó và các ông bà cụ ở viện dưỡng lão ra sao sau 30 tháng 4 năm 1975.
Lễ Giáng Sinh cuối năm 1974 là một lễ buồn nhất trong tất cả những năm ở tiểu chủng viện. Mưa tầm tã từ hai ngày trước lễ nên hang đá phải làm trong hành lang trước cửa chính. Tuy mưa nhưng cha quản lý cũng dặn nhà bếp nấu xôi cho các chú ăn reveillon. Nhưng sau lễ mới biết xôi chưa chín vì trấu bị ướt. Trong khi chờ xôi chín anh em lớp vào “Phòng Ăn Các Cha’ mừng lễ các ngài thì thấy các ngài hơi ngượng ngùng, không biết vì bị bất ngờ hay vì các món Tây đang bày trên bàn ăn?
Tình hình chiến sự ngày càng xôi động sau khi đi nghỉ tết về. Lệnh tổng động viên một lần nữa được ban ra (lần đầu vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972). Vì hầu hết anh em trong lớp đều trong tuổi động viên nên cả lớp xôn xao bàn tán chọn binh chủng nào để gia nhập. Tuy vậy vì tuổi trẻ mau quên và vô tư lự nên dù giữa lúc hoang mang về một tương lai vô định vẫn có những chuyện cười ra nước mắt. Số là khi bàn tán về việc chọn binh chủng để gia nhập nếu bị động viên đi lính, hầu hết anh em chọn gia nhập quân đội trừ Phan Hùng Châu hắn nói sẽ gia nhập vào ngành cảnh sát. Tức thì chuyện Châu muốn làm cảnh sát trở thành chuyện tiếu lâm rất ăn khách và Châu bỗng chốc trở thành mục tiêu để anh em chế diễu.
Khoảng đầu tháng ba năm 1975 chủng viện Têrêxa bãi trường sớm. Và không ngờ đó cũng là lần cuối cùng chủng viện bãi trường. Chấm dứt những ngày tháng tuyệt vời của thời trung học với bao kỷ niệm vui buồn mà giờ này dù có bao nhiêu của cải tiền bạc cũng chẳng có thể nào mua lại được nữa.
Lời kết
Bốn mươi năm dài với nhiều biến cố lớn nhỏ xảy ra cho mỗi người trong chúng ta. Trong bốn mươi năm đó mỗi người trong chúng ta có một câu chuyện cuộc đời riêng để kể lại. Nhưng chúng ta cũng may mắn có được một phần đời chung thật đẹp dù có một số anh em chỉ đồng hành chung với lớp một hai năm. Một hai năm tuy không nhiều so với cả đoạn đời đã trải qua nhưng cũng đủ để ghi đậm như một dấu ấn trong cuộc đời mình. Tôi có thể khẳng định như vậy vì sau bốn mươi năm ai trong chúng ta cũng hãnh diện nhận nhau là anh em lớp mà không hề phân biệt có bao nhiêu năm chung sống dưới mái trường chủng viện.
Những trang bút ký này là cảm nghiệm của riêng tôi như một đóng góp nhỏ nhoi vào phần đời chung của chúng ta. Và vì là cảm nghiệm riêng tư nên chắc chắn có những ghi nhận không chính xác hay thiếu sót mong mọi người thông cảm bỏ qua cho.
Khởi sự viết tháng 7 năm 2005
Hoàn tất tháng 7 năm 2007
Nguyễn Mộng Huỳnh