Sống trên đời, mỗi người ít hay nhiều đều có những kỷ niệm, cho dù đó là kỷ niệm vui hay buồn, kỷ niệm tươi đẹp hay kỷ niệm đau thương, kỷ niệm đáng nhớ hay đáng ghét. Kỷ niệm nhiều hay ít tùy hoàn cảnh sống và thời gian sống của mỗi người. Tất cả những kỷ niệm đó đều nằm sâu trong ký ức của mỗi người.
Nói theo ngôn ngữ tin học ngày nay, ký ức là một bộ phận lưu trữ rất tinh vi và đa dụng. Như một máy điện toán cần phải có một dĩa cứng (Harddisc) dùng để lưu trữ mọi dữ kiện cần thiết, ký ức của mỗi con người cũng là một đĩa cứng chứa đựng rất nhiều dữ kiện liên quan đến cuộc đời của chính cá nhân mình, hoặc liên quan đến một tập thể, một xã hội, một quốc gia, hoặc cả thế giới v.v… Đĩa cứng của máy điện toán có nhiều loại, nhiều dung lượng và nhiều phẩm chất khác nhau. Ký ức của con người cũng tương tự như thế.
Các bạn và tôi, chúng ta cùng có chung một kỷ niệm đang nằm sâu trong ký ức từ 40 năm qua, đó là ngày chúng ta cùng bước vào ngưỡng cửa của căn nhà được mang tên „Á Thánh Phụng“, ngày 14-08-1968. Dĩ nhiên không phải chúng ta chỉ có một kỷ niệm duy nhất đó, trải dài suốt đoạn đường 40 năm chúng ta có rất nhiều kỷ niệm có thể là chung chung, và cũng có thể của riêng từng cá nhân mà ký ức mỗi người ghi nhận một cách khác nhau.
Để mừng biến cố „Về Nguồn“ trọng đại, riêng cá nhân tôi xin một lần khơi dậy ký ức để cùng chia sẻ với các bạn những kỷ niệm mà tôi đã ghi nhận được trong thời gian cùng chung sống với các bạn dưới một mái nhà. Những kỷ niệm tuy đã thật cũ đối với thời gian, nhưng hy vọng có thể đem lại cho mọi người một cảm nhận như mới vừa hôm qua.
* * * * *
Nói về địa hình chủng viện Thánh Phụng, từ cổng chính đi vào, ba dãy nhà trông có vẻ cổ kính nhưng chắc chắn được xây dựng theo hình chữ U. Ngay giữa sân là tượng đài thánh Giuse, hai bên có hai cây vú sữa to như hai cây cổ thụ. Hai cây vú sữa này như hai cây „trái cấm“ trong vườn địa đàng, bởi mỗi mùa sữa chín dù chẳng có con rắn nào dụ dỗ, nhưng cũng khá nhiều „chú“ đã bị „sa chước cám dỗ“, bất chấp hậu quả đã ngang nhiên ăn vụng „trái cấm“ một cách tự nhiên nhưng kín đáo.
Đầu dãy nhà bên phải phía ngoài đường là nhà nguyện, đầu phía trong là nhà bếp. Đầu phía sau của dãy nhà bên trái là nhà tắm, nhà chơi. Ở giữa là một sân rộng, cuối sân bên trái là trường học và sau trường học là sân túc cầu. Góc cuối bên phải là « hồ than thở“, quê hương của loài cá tra. Trên hồ là một nhà thủy tạ nhiều phòng để các chú chủng sinh ngày đêm mỗi khi có „bầu tâm sự“ thì ra đó „than thở“ và trút hết lên đầu lên cổ bày cá tra lúc nào cũng sẵn sàng đón nhận cách nồng nhiệt.
Tôi còn nhớ dọc đường ra nhà thủy tạ có hàng cây me nước khá lớn đã cống hiến cho các chú bé trong tuổi thích ăn chơi hơn ăn thiệt những trái me ngọt ngào hấp dẫn, mà thỉnh thoảng tôi cũng được thưởng thức.
Ngày 14.08.1968, 120 chú bé trúng tuyển đã lần lượt từ nhiều nơi đổ về ngôi nhà cổ kính này với những hành trang to hơn cả người. Kỷ niệm đầu tiên là những khuôn mặt ngơ ngơ ngác ngác như những con nai vàng, vì ngoài 120 chú trong kỳ thi tuyển chưa có đủ giờ để quen nhau, giờ đây lại thêm bao nhiêu khuôn mặt của các lớp đàn anh lần đầu tiên mới chạm mặt. Nhưng rồi với thời gian chẳng khuôn mặt nào chẳng được nhận diện một cách thân tình.
Kỷ niệm đầu tiên đến với tôi thật nhanh. Chỉ vài ngày sau khi làm quen với kỷ luật, giờ giấc, một buổi sáng vừa nghe chuông reo, mọi người ngồi dậy hát kinh sáng và lập tức chạy xuống sân để tập thể dục. Nhưng trước khi tập mọi người phải chạy vài chục vòng chung quanh dãy nhà chính để „hâm nóng“ cơ thể như những cầu thủ túc cầu thường làm trước khi vào trận.
Tôi cùng với mọi người nối đuôi nhau chạy, chưa được một vòng thì tự nhiên tôi đổ ra cái đùng. Ngay lúc đó tôi mới thực sự tỉnh ngủ, vì khi chạy mắt tôi vẫn còn lờ đờ ngái ngủ nên vấp vào những bậc thang ngay giữa cửa nhà chính, kết quả là một cú „ngã ngựa“ thật đau điếng. Lồm ngồm bò dậy tôi thấy đau ở đầu gối, nhìn xuống thì hỡi ôi đầu gối đang ăn trầu. Dù vậy, tôi vẫn cố cà nhắc cà nhắc chạy theo mọi người. Đó là kỷ niệm « đầu đời chủng sinh“ mà tôi không thể quên. Những ngày sau đó nhờ cái đầu gối ăn trầu nhắc nhở nên tôi đã tránh được lỗi lầm tai hại.
Tuy đầu gối tôi ăn trầu, nhưng kể ra chưa đến nỗi nào. Ít lâu sau một người bạn của chúng ta trong giờ chơi đá banh đã ngã qụy khi đón hụt trái banh từ xa lăn tới. Cú ngã trông rất tầm thường nhưng hậu quả thật thê lương : xương đùi của anh gãy đôi như cây củi khô. Tôi vẫn còn nhớ hôm vào thăm anh trong nhà thương, chân anh bó bột to tướng lại có một cây sắt xuyên ngang và toàn bộ giò cẳng treo lủng lẳng như cái càng cối xay lúa, trông thật tội. Có lẽ các bạn cũng chưa quên, người bạn đó chính là Trần Văn Thạnh.
Đối với tôi, những ngày vui nhất trong chủng viện Thánh Phụng là những ngày cắm trại ngoài trời. Dù những ngày trại cũng phải sống kỷ luật và phải theo những chương trình, giờ giấc đã hoạch định nhưng cảm thấy bầu khí vẫn tự do hơn, vui tươi và thoải mái hơn những ngày thường.
Lần cắm trại đầu tiên, tôi còn nhớ mãi trò chơi thi luộc trứng. Mỗi đội được phát một trái trứng và một cái nồi. Quy luật chơi là mỗi khi nghe còi là phải tắt bếp đem tới một chỗ khác mồi bếp mới và nấu tiếp. Đội này không được phép dùng bếp mà đội kia mới dời đi. Sau khi chấm dứt, trứng đội nào chín sẽ thắng.
Đội tôi đang hì hục buộc nồi vào cây
để chuẩn bị luộc trứng thì may thay có cha giáo Thản đứng gần đấy, ngài mỉm
cười, nói :
- Có quả trứng mà mấy chú luộc cái nồi to như vậy chừng nào mới sôi.
Nghe vậy chúng tôi liền hiểu ý của ngài và hì hục gỡ ra, rồi may mắn tìm được
ngay một lon sữa bò thế vào. Sau hồi còi thứ nhất nồi trứng của chúng tôi
đã sôi ùng ục, và khi cuộc chơi chấm dứt, trứng của chúng tôi đã chín thật
hoàn hảo. Nhờ được cha giáo Thản chỉ „mánh“ mà chúng tôi đã đoạt thắng lợi.
Thật đúng :“không thày đố mày làm nên“.
Trước khi nhổ trại là một cuộc tổng vệ sinh, đặc biệt nồi, liêu, xoong, chảo phải được đánh rửa cho sạch bóng để hoàn trả lại nhà bếp. Thầy Nết kiểm tra từng cái đít nồi. Vô phúc đội nào rửa chưa sạch thì không những phải rửa lại mà còn bị trừ điểm và bị „đóng ấn“ trên má.
Một biến cố khó quên khác là năm lớp 8, cũng dịp cắm trại, vào đêm đốt lửa trại, Ngô Quang Trung xung phong làm thần lửa. Thần lửa có nhiệm vụ đem lửa tới chân cột thu lôi ở góc sân banh châm vào sợi dây đã cột sẵn. Lửa cháy dần lên cao và sẽ cháy đứt mồi lửa chính rồi lao từ trên cao xuống đống củi ở giữa sân như thể lửa từ trời lao xuống.
Thần lửa Ngô Quang Trung đeo mặt nạ với chòm râu „mượn“ của một ông tiên nào đó, được kiệu ra sân banh, rồi tay cầm đuốc chạy vòng vòng trước khuôn viên trại, miệng thỉnh thoảng phun ra một hơi làm ngọn đuốc cháy bừng lên như rồng phun lửa. Nhưng hỡi ôi, khi thần lửa phun lần thứ ba thì tai hoạ giáng xuống khiến „thần lửa“ lãnh đủ, bởi lẽ không những ngọn đuốc cháy bừng mà cả mặt thần lửa cũng bốc cháy làm mọi người hoảng hồn không kịp kêu xe cứu hoả.
Rất may thần lửa hồi đó râu thật chưa có nên chỉ bị sém má hồng chút đỉnh chứ chưa bị ong làm tổ, thành thử giờ này làm cha thiên hạ mặt mũi thần lửa ngày xưa vẫn sáng sủa đẹp giai như thường.
Không chỉ những thú vui cắm trại mới đáng nhớ mà những điều đáng nhớ trong những năm ở chủng viện Châu Đốc thì khá nhiều. Chẳng hạn những lần tổ chức văn nghệ thì bầu khí trong chủng viện sinh động hẳn lên. Nào là lo vật dụng dựng sân khấu, nào là vẽ phông, trang trí v.v… Mỗi lớp đua nhau tập dượt các màn ca, vũ, nhạc, kịch v.v…
Riêng tôi vẫn nhớ mãi năm lớp bảy tôi được lớp „bầu chọn“ vào đội vũ. Vai trò này tôi không thích lắm nhưng không có cách từ chối đành phải chịu, vì màn vũ này không phải dành cho các bé trai mà là các bé gái mới hợp thời trang. Vì thế, để thực hiện màn vũ này chúng tôi phải dùng phương pháp „đổi hệ“, nhưng chỉ hình thức thôi đấy nhé. Rất tiếc tôi không còn nhớ những bạn nào đã tham gia màn vũ này với tôi.
Những người làm công việc „đổi hệ“ bề ngoài cho chúng tôi chính là các chị bếp. Trước khi trình diễn, chúng tôi ngồi ngoan ngoãn như những em bé (mà bé thật) để các chị tha hồ làm ảo thuật. Cuối cùng, chúng tôi đã trở thành những bé gái trông rất xinh và diễn cũng rất „tới“ trên sân khấu.
Sau này tại chủng viện Têrêsa Long Xuyên dịp văn nghệ mừng 100 năm sinh nhật Thánh Têrêsa cũng khá ấn tượng. Dịp này tôi không phải đóng vai các „bé gái“ nữa, nhưng một số anh em khác (kể cả những lớp khác) đã đóng vai các nữ sinh thật kiều diễm. Tuy nhiên, tôi cũng đã góp phần tạo cho những nữ sinh này có hình dáng đúng „kích thước“ của những cô gái tuổi dậy thì, nghĩa là những đường cong của họ đang trên đà phát triển. Những nữ sinh trẻ đẹp thì phải có hai đồi thông non mơn mởn mới đúng luật của tạo hoá và thực sự hấp dẫn. Do dó, tôi và Nguyễn Quang Trung (Tégồ) đã là hai nhà sản xuất những cặp „phễu lọc cà phê“ (nói theo danh từ của các anh bộ đội mới vào Nam sau 1975) cho các nữ sinh này.
Trong buổi văn nghệ đó rất nhiều khán thính giả từ bên ngoài vào tham dự đã bị mê hoặc bởi những nữ sinh Têrêsa trẻ đẹp như nàng tiên trên sân khấu qua những màn vũ thật duyên dáng, chẳng hạn những nữ sinh trong bộ Kimono với màn vũ dù „Mùa Thu Đông Kinh“ thì không thể chê được.
Sau buổi văn nghệ này đã có những thắc mắc từ bên ngoài lọt vào trong chủng viện rằng :“Lạ thật, trường Têrêsa toàn là con trai thế mà họ mượn ở đâu được đám con gái đẹp quá trời“. Cũng may người ta còn biết Têrêsa toàn là nam giới, chứ không thì những „cây si“ đã đua nhau mọc vô trật tự trước cổng chủng viện.
Một biến cố khác chắc chắn nhiều anh em chưa thể quên, nhất là những anh em đã từng là nạn nhân. Đó là biến cố bị Tào Tháo rượt. Một ngày Chúa nhật đẹp trời, chủng sinh các lớp được ra ngoài đi dạo. Nếu tôi nhớ không lầm, hôm đó lớp chúng ta đi dạo ở Mộ Lớn và bữa trưa hôm đó là món bánh mì kẹp thịt. Không biết vì thức ăn hay vì một lý do nào khác mà đến chiều về nhà hết người này đến người kia bị Tào Tháo hỏi thăm sức khoẻ.
Mới đầu thì chỉ vài người vội vàng ra „nhà nghỉ mát“ rồi về nằm phòng bệnh. Trong giờ kinh chiều, lúc xướng kinh thì tương đối đầy đủ, sau đó cứ lần lượt nối đuôi nhau ra trình diện Tào Tháo, đến khi kết thúc thì trong nhà nguyện chỉ còn loe ngoe vài người, trong số vài người này may mắn có tôi. Thế là buổi tối hôm đó mọi người nằm la liệt ở hành lang nhà chính và phòng ăn cũng trở nên trống vắng, hiu quạnh.
Thực ra tôi không phải là chú bé mạnh khoẻ gì, vì hầu như năm nào cũng vậy sau khi tựu trường chừng hai hoặc ba tuần thì thế nào tôi cũng phải nằm vạ ở phòng bệnh ít là mấy ngày đến một tuần. Nhưng không hiểu sao những lần đau tập thể như biến cố „đi nhanh về thong thả“ vừa kể và sau này cũng một lần dịch „Tào Tháo“ và dịch „cúm“ ở Long Xuyên tôi đều thoát nạn.
Những cuộc du ngoạn lớn thì không thể không nhắc đến Núi Sam. Núi Sam không phải là thánh địa của giáo hội công giáo, nhưng nó là một địa danh được gắn liền với chủng viện Thánh Phụng. Vì, ngoại trừ một số anh em sớm lìa bỏ nhà Đức Chúa Giời, còn hầu hết những ai đã từng là chủng sinh của Thánh Phụng thì không ai không biết và ít nhất đã một lần đến Núi Sam.
Hầu như mỗi năm chủng viện Thánh Phụng đều có một cuộc „hành quân“ Núi Sam. Tôi nói là hành quân vì, mỗi lần du ngoạn Núi Sam chúng ta phải cuốc bộ từ chủng viện tới chân núi khoảng 8 cây số. Đối với cặp giò còn non nớt của các chú 11, 12 tuổi thì cuộc hành quân như vậy khá vất vả. Nhưng tinh thần „ham dzui“ của các chú đã đánh bại sự mệt mỏi của đôi chân.
Lần đầu tiên được đi Núi Sam, tôi rất phấn khởi phần vì được „xổ lồng“ đi xa, tha hồ chạy nhảy, phần vì háo hức muốn biết núi như thế nào. Từng nhóm từng nhóm vừa đi vừa „hót“ líu lo như đàn chim sẻ, và đề tài được „hót“ nhiều nhất lúc đó không gì khác ngoài núi non.
Khi thấy dãy núi sừng sững trước mặt ai nấy đều hớn hở và nghĩ rằng chẳng còn bao lâu nữa mình sẽ tới chân núi. Nhưng rồi đi mãi cứ thấy bước chân mình ngắn lại còn núi thì cứ đi thụt lùi. Các chú nhỏ lúc đó mới bày tỏ thắc mắc : lạ thật nhìn thấy núi ngay trước mặt mà sao đi mãi không tới.
Nhưng dù bước chân có ngắn và chậm lại, cuối cùng mọi người cũng tới được chân núi. Ngoài những lúc phải đi chung với lớp tham quan những nơi trọng yếu do các cha, các thày hướng dẫn, từng nhóm vài người có thể đi chơi với nhau trong phạm vi và thời gian ấn định.
Tôi còn nhớ một lần tôi và một vài bạn kéo nhau vào chỗ người ta khai thác chì. Hang rất to nhưng không có đèn thì chẳng làm được trò trống gì, vì vào sâu thì tối đen như đêm ba mươi chẳng trông thấy gì cả. Chúng tôi trở ra và lần mò leo lên khá cao. Vì không có người hướng dẫn chúng tôi chẳng biết đường trở xuống. Lũ chúng tôi bối rối vì sợ lạc.
Cuối cùng chúng tôi tìm ra con đường lộ, đây là con đường để xe chạy lên xuống, nhưng không được trải nhựa phẳng mịn bình thường mà lổm chổm đất, đá. Để bảo đảm không sợ lạc, chúng tôi theo con đường này thả bộ xuống. Vì đường ngoằn ngèo theo sườn núi nên khá dài, chúng tôi phải đi khá lâu mới xuống tới chân núi. Rất may chúng tôi còn kịp giờ cùng với mọi người trở về chủng viện. Và dĩ nhiên tối hôm đó hai bắp chân tôi như bị lìa khỏi đầu gối.
Nói về những biến cố đáng ghi nhớ của lớp chúng ta tại chủng viện Thánh Phụng Châu Đốc mà không nhắc tới biến cố „ba roi mây“ là một thiếu sót không thể dung tha. Vì đó là một kỷ niệm không thể phai mờ trong ký ức kể cả các bạn may mắn không bị nếm mùi dẻo dai của chiếc roi mây, trong đó có tôi.
Một Chúa nhật trước mùa hè, mùa „đá dế“ của các chú nhỏ còn đang ham chơi hơn ham học, thày Mân - được lũ học trò tặng cho cái tên Chế Mân - dẫn cả lớp ra cánh đồng mới được cày xong. Vừa ra tới cánh đồng, lũ học trò mê đá dế nhảy mừng vì những tiếng kêu quen thuộc và thật hấp dẫn đua nhau lọt vào tai. Chính những tiếng kêu này đã là „nguyên cớ cho nhiều người vấp phạm“.
Tưởng rằng ra tới đây rồi thì được tự do, các chú hăng say chạy vụt đi tìm những nơi đang phát ra những tiếng gáy nghe thật du dương. Thầy Mân có lên tiếng nhắc nhở „hãy theo thầy“ nhưng lúc đó tiếng thầy nghe đâu có khoái lỗ nhĩ bằng tiếng mấy con dế, thành thử thầy đi đường thày trò đi đường trò. Thày cũng nghĩ rằng lũ học trò này mê dế nhưng chắc chỉ loanh quanh ở đó một chút rồi sẽ đi theo thày sau. Ai dè tới một điểm khá xa nhìn lại chỉ chừng mười mấy hai chục đứa lẽo đẽo đi theo, thế là thày nổi cơn lôi đình vì đám học trò mê dế hơn cả thày.
Trong đám học trò “bước theo thày“ may phúc có tôi. Có lẽ chúng tôi trở thành những chú bé ngoan ngoãn một cách thật tình cờ chỉ vì trong huyết quản của chúng tôi không có hoặc rất ít loài vi khuẩn „dế“ nên đã không bị những tiếng kêu du dương kia „hớp hồn“ mà bước đi theo thày một cách rất bình thường.
Trước khi trở về thày Mân ra lệnh cho chúng tôi ghi tên những „đứa nào đi theo thày“ vào một danh sách cho thày. Chúng tôi lập danh sách còn thày đi bẻ một nắm cây - chừng năm sáu cây bằng ngón tay - làm roi. Qua thái độ của thày, chúng tôi biết chắc chắn lát nữa đây những người bạn mê dế kia sẽ phải trả một giá nào đó cho những con „dế vàng dế bạc“ mà mình đã khổ công săn được, nhưng chúng tôi cũng chỉ đành „câm như hến“ chứ chẳng biết làm sao hơn.
Về tới lãnh địa của loài dế, các nhà yêu dế và các chuyên gia về dế đang phấn khởi họp báo để khoe thành tích vừa thu lượm được. Người nào ít cũng vài con, có người dăm bảy con, thậm chí có kẻ „tóm cổ“ được hơn chục con đến nỗi không có gì để chứa phải bỏ cả lên đầu. Thế nhưng, những tiếng cười mãn nguyện chưa dứt đã vụt tắt khi tiếng còi tập họp vang lên.
Khi đứng vào hàng chỉnh tề rồi đa số
vẫn chưa có ý niệm gì về điều sắp xẩy ra. Tập họp xong, thầy giáo Mân phán
:
- Tao đọc, những đứa nào có tên sau đây đứng sang một bên.
Tới lúc này thì mọi người mới linh cảm chuyện chẳng lành sẽ xẩy ra. Những
anh em – không nhiều lắm - được gọi tên lần lượt đứng sang một bên. Thầy Mân
bắt đầu đóng vai công tố viện kể tội những „bị can“ nghe dế hơn nghe thầy,
kể cả những tội quên tội sót trước đây thầy cũng tiện kể ra luôn. Rồi cuối
cùng thầy đóng luôn vai chánh án, kết tội : mỗi „bị can“ lãnh 3 roi mây, án
được thi hành ngay tại chỗ, không ai có quyền xin ân xá, và cũng chính thầy
đóng luôn vai lý hình.
Thật không may cho những “bị can”, trước khi hành hình, bỗng thầy phát hiện một „bị can“ đứng trong hàng đang phe phẩy chiếc roi mây dẻo dai . Chủ nhân chiếc roi mây là Nguyễn Văn Giáo, tức Giáo già. Chiếc roi này Giáo già mới thu hoạch được hôm tuần trước ở Mộ Lớn. Tức thì thầy truyền lệnh cho Giáo già đem lên nộp chiếc roi mây cho thầy.
Đúng là „hoạ vô đơn chí“, nếu đừng có chiếc roi mây này thì những chiếc roi của thầy chỉ quất được vài mạng là cùng. Nhờ chiếc roi mây thầy đã thi hành xong mọi bản án mà chiếc roi vẫn còn trong tình trạng dẻo dai. Điều đặc biệt là trong những lúc nóng giận trời lại ban cho thầy có một trí nhớ tốt đặc biệt để thầy nhớ lại những tội của lũ học trò mà trước đây thầy đã bỏ quên, bỏ sót. Do đó, một số „bị can“ không may còn bị chồng án, thay vì 3 roi thành 5 hoặc 6 roi do những tội quên, tội sót này.
Pháp trường hôm đó đượm một bầu khí u uất ảm đạm. Những gương mặt ủ rũ, nhăn nhó thay cho những gương mặt hồng hào, rạng rỡ và những tiếng rên rỉ, xít xoa thay cho những tiếng cười sảng khoái trước đó không lâu, vì những vết roi như những con lươn mập ú in hằn trên lưng, trên vai những kẻ vừa thọ hình.
Tại các phiên toà ở khắp nơi, dù công minh cách mấy cũng vẫn xảy ra những vụ oan ức. Trường hợp này không những không ngoại lệ mà chắc chắn có nhiều kẻ bị oan mà không biết „thở than“ với ai, vì phiên toà chỉ có công tố viện kiêm chánh án, còn „bị can“ chẳng có luật sư biện hộ, có oan ức thì chỉ đành kêu trời. Kể cả khá nhiều chú dế cũng bị chết oan ức trong chính tay của chủ mình.
Trên đường về, gần tới nhà có kẻ ngứa mồm ngứa miệng phát ngôn một câu không đúng nơi, đúng chỗ rằng : „Kỳ này về Chế Mân lại cho mỗi đội một bịch kẹo đấy“. Chúa Thánh Thần thổi hơi cách nào đó mà câu này lọt vào tai thầy Mân. Câu nói tuy chỉ có tính cách khôi hài, nhưng lại „chạm nọc“ của thầy. Thế là cả lũ phải ngồi lại trước hàng rào sân banh để nghe thầy „thuyết pháp“ một bài „không tên, không biên giới“ trước khi được vào nhà.
Tuy vậy, những ngày sau đó nhà cơm đã trở thành một thính đường ngày đêm lúc nào cũng có chương trình hoà nhạc inh ỏi đến nỗi ban giám đốc phải ra lệnh „giải toả“ và làm cho các nhà mê đá dế ngậm đắng nuốt cay trong tâm trạng „nửa hồn thương đau“. Thật là biến cố để đời.
Sau biến cố 1975 tôi có gặp lại thầy Mân dịp thầy ghé thăm cha bạn mới về làm phó ở xứ tôi, lúc đó thầy vẫn chưa làm cụ. Trong lúc hàn huyên, nhắc lại biến cố „3 roi mây“, thầy cười khặc khặc và hỏi tôi :“Thế, mày có bị không ?“
Những năm dài sống trong nhà Đức Chúa Giời, có những niềm hạnh phúc thật đơn sơ, nhỏ bé nhưng không dễ phai mờ trong ký ức. Điển hình như những lần được hưởng „sái“ những phần cơm của ban giám đốc sau khi làm công tác tiếp bàn, mà chúng ta thường mệnh danh là cơm „Tây“. Hoặc thỉnh thoảng vào những dịp lễ lớn được „goutet“ bằng những miếng cà rem mát rượi hay được uống những ly đá chanh thơm phức thì còn gì hạnh phúc hơn đối với những chú bé không hề có cơ hội ăn quà vặt.
Ngoài những kỷ niệm vui vui còn có những kỷ niệm chẳng vui mà cũng chẳng buồn (hoặc có buồn cũng phải chịu) đã không những ghi sâu vào ký ức mà còn bám sát từng người như hình với bóng và được nhắc nhớ hằng ngày, có lẽ khi nhắm mắt xuôi tay những kỷ niệm này cũng sẽ đi theo xuống tuyền đài. Đó là những cái tên mà cha mẹ đặt cho chưa đủ khả năng để phân định một người mà phải do bạn bè đặt thêm cho một tên đệm nữa thì mới đầy đủ ý nghĩa. Chẳng hạn : Ái đen, Bình cồ, Bình Sữa, Dũng khều, Châu bêu, Lâm già, Năm cứng, Ngọc sò, Ngọc hến, Thục đế, Trung bắp, Trung cận v.v… Hầu như mỗi người đều có tên „riêng“, và nhiều khi tên riêng này đã làm lu mờ cái tên chính cha mẹ đặt cho.
Khi lên tiểu chủng viện Long Xuyên, kỷ niệm ghi sâu vào ký ức tôi là lần đầu tiên xin phép cha giám thị - lúc đó là cha Lê Văn Quan – đi phố. Mặc dù hồi đó tôi đã lớn khôn hơn những năm ở Châu Đốc, nhưng thời gian đầu lên đây cũng chẳng khác nào anh lính mới tò te, mọi người và mọi vật đều mới lạ. Đặc biệt cha giám thị Lê Văn Quan lúc đó dưới con mắt của các chú lính mới chẳng khác nào một ông tướng nghiêm nghị, ai mà chẳng „khớp“.
Đứng trước cửa phòng cha giám thị hồi
hộp và do dự một lúc thật lâu tôi mới dám gõ cửa. Vừa bước vào phòng, cha
Quan nhìn tôi trừng trừng, hỏi :
- Có chuyện gì ?
- Thưa cha, con xin phép ra phố.
- Anh ra phố làm gì ?
- Thưa cha, con muốn mua ít đồ.
- Anh muốn mua đồ gì ?
Tôi bắt đầu cảm thấy lúng túng chẳng khác nào một tên tội phạm đang bị hỏi
cung. Thực sự tôi muốn mua mấy cái quần xà lỏn, nhưng nói toạc ra nghe có
vẻ kỳ quá. Bất đắc dĩ tôi đành trả lời :
- Thưa cha, con muốn mua mấy cái áo thun.
Cha Quan vẫn nhìn thẳng như muốn ăn tươi nuốt sống tôi, rồi phán :
- Ừ, mua áo thun thì nói mua áo thun, anh nói ra phố tôi đâu biết anh ra phố
làm gì. Ra mua áo thun rồi về nghe. Thôi đi đi.
Từ đó, tôi nghiệm ra đối với cha Quan, nếu không muốn rầy rà tốt nhất là “nói thẳng, nói thật”, nghĩa là nói toạc móng heo mỗi lần xin phép đi đâu.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi trong mấy năm ở Long Xuyên là dịp mừng sinh nhật thứ 100 thánh nữ Têrêsa. Một cuộc triển lãm qui mô được thực hiện. Lớp nào và cá nhân nào cũng đem hết khả năng ra để thi thố. Cùng với sự nhộn nhịp của mọi người, tôi hì hục bao nhiêu ngày với công trình chế tạo một chiếc máy truyền hình có hình ảnh di động hấp dẫn. Chiếc đèn kéo quân là bộ phận chính của chiếc Tivi màu tối tân này. thấy sáng kiến của tôi khá hấp dẫn, nhiều anh em đã sốt sắng và tận tâm phụ giúp. Cuối cùng, chiếc Tivi của tôi đã được hoàn thành mỹ mãn dưới con mắt thán phục của nhiều người. Tôi thực sự rất vui về sự thành công này.
Thế rồi, trước ngày khai mạc triển lãm tôi đã thử lần cuối cùng. Sau khi mở máy bằng cách đốt những cây đèn cầy bên trong, hình ảnh đã quay đều rất ngoạn mục. Nhưng cũng vừa lúc đó mọi người kéo nhau đi ăn goutet. Tôi không còn nhớ hôm đó là ngày gì, mỗi người được hưởng một cây cà rem thơm phức. Ăn xong cây cà rem trở về, chiếc Tivi vẫn còn hoạt động tốt. Tôi yên tâm và định tắt máy bằng cách thổi tắt đèn cầy.
Không biết tôi đã thổi cách nào mà những cây đèn cầy không những không tắt mà cả chiếc Tivi đã bốc cháy không có cách nào cứu chữa. Cảm giác của tôi lúc đó như thể trời đang sập xuống. Tôi chỉ muốn ôm mặt khóc mà thực sự ngay lúc đó tôi không thể nào khóc được. Thế là công trình bao nhiêu ngày vất vả phút chốc đã tan tành theo mây khói. Không chỉ riêng tôi mà bao nhiêu anh em khác cũng đã tiếc thương cho số phận hẩm hiu của chiếc Tivi đã bị “uổng tử” khi chưa kịp mở mắt chào đời. Nỗi đau này đã ám ảnh tôi nhiều ngày sau đó và cho tới hôm nay biến cố đó vẫn chưa thể phai mờ trong ký ức của tôi.
Viết đến đây tôi chợt có ý nghĩ : Đời sống trong nhà tu có lẽ khác hơn đời sống trong nhà tù ở chỗ trong nhà tu có nhiều điều vui và đáng nhớ hơn, trái lại trong nhà tù chỉ có những điều người ta không muốn nhớ mãi. Hai nơi đều có cổng kín tường cao, đều là nơi sống tập thể, đều là nơi có kỷ luật, nhưng đời sống và và các sinh hoạt hai nơi hoàn toàn khác biệt nhau. Cùng một chữ TU chỉ thêm dấu „huyền“ có thể gây cho người ta một ấn tượng trái ngược nhau. Nói đến nhà TU người ta nghĩ ngay tới một nơi toàn là những con người tốt, hay một nơi đào tạo ra những người tốt. Nói đến nhà TÙ người ta liên tưởng tới nơi chuyên giam giữ những người xấu. Nói đến người TU người ta có một ấn tượng tốt với người đó, trái lại nói đến người TÙ người ta có một ấn tượng không hay về người đó. Ôi ! „Chữ TÙ liền với chữ TU một vần“.
Và dù sống trong môi trường nào TU hay TÙ cũng có nhiều kỷ niệm đong đầy trong ký ức. Riêng chúng ta là những người sống trong nhà Chúa có lẽ có nhiều kỷ niệm đẹp đáng nhớ, nhưng nếu mỗi người chúng ta ngồi ghi lại hết những kỷ niệm của những năm dài sống trong nhà Chúa thiết tưởng có thể in thành bộ sách nhiều tập, nhưng tiếc rằng cả người viết lẫn người đọc không có đủ thời giờ làm việc đó. Cá nhân tôi chỉ xin ghi lại bấy nhiêu kỷ niệm đáng nhớ nhất còn ghi đậm trong ký ức để cùng chia sẻ với các bạn trong dịp mừng biến cố Về Nguồn kỷ niệm 40 năm ngày bước vào ngưỡng cửa nhà Chúa.
Cầu chúc ngày họp mặt Về Nguồn thành công để mỗi người chúng ta được sống lại những giây phút trong bầu khí tươi đẹp của một thời đáng yêu và đáng nhớ.
Kỷ niệm 40 năm nhập chủng viện Thánh
Phụng Châu Đốc.
Đỗ Văn Thục