Từ ngày ra trường, nhiều anh em K1 đã tạo dựng các công trình nhà thờ, nhà xứ, hay nhà giáo lí. Như tôi biết rõ hơn, ở Long Xuyên chỉ duy một người là không biết đến sắt thép, cát đá vì giữ một trách nhiệm riêng, còn thì tất cả đã nếm mùi bê tông, “vày vò vôi vữa”. Khi nêu lên thực tế này tôi không hề dám coi đó như một thành tích để “nhâm nhi” tự hào nhưng chỉ để đối chiếu và suy nghĩ về một đường hướng mục vụ riêng của vùng sông nước Cửu Long: vừa chăm lo phần thiêng liêng vừa phục vụ đời sống.
Trước hết, việc xây dựng các công trình là một nhu cầu thực tế. Ở nơi nào khác việc xây dựng trở thành xa xỉ và cạnh tranh, chứ ở đây, miền Đồng Bằng Sông Cửu Long này, việc xây dựng là một nhu cầu thiết thực, đôi khi cấp bách. Một người lần đầu tiên đi từ Sài Gòn xuống vùng này đưa ra nhận xét: càng xuôi xuống vùng dưới, nhà cửa càng lụp sụp, sơ sài; đời sống người dân càng nghèo, càng cách biệt với thành phố; các công trình giao thông càng cũ kĩ và nhỏ hẹp hơn. Đoạn từ Sài Gòn đến Trung Lương tương đối khá; từ Trung Lương xuống Mĩ Thuận vẫn còn khả quan; từ đó trở xuống, đi về hướng Sóc Trăng Cà Mau, hoặc lui xuống An Giang Kiên Giang, nhà cửa, đường sá thật thảm hại. Nhưng đó chỉ là một phần của cái diện mạo nghèo, đi sâu vào bên trong để “cận cảnh” thì tình trạng còn thê lương hơn. Hoàn cảnh chung các giáo xứ của vùng này là nghèo, có xứ rất nghèo. Vì thế có cha đã dám gọi nhà thờ giáo xứ của mình là “chuông thờ” là như vậy.
Một giáo xứ, dù kì cựu hay mới tạo lập thì vẫn cứ có các công việc để xây dựng, để sửa sang, để gia cố. Nếu không phải là trọng đại như nhà thờ, nhà xứ, tượng đài, nhà giáo lí thì cũng là cầu cống, đường sá, khuôn viên, nhà tình thương, phòng đọc sách, phòng phát thuốc...Và trong vòng một thập niên vừa qua ba giáo phận của vùng này đã gửi nhiều linh mục trẻ và mới ra trường đến các vùng sâu để lập các giáo điểm mới thì “mục vụ xây dựng” vươn rộng ra rất nhiều, rất xa. Mà không chỉ có thế hệ các linh mục trẻ hôm nay mới phải lo chuyện xây dựng, cả thế hệ linh mục cha anh- từ khoảng năm 56, 57 đến năm 75- 80 của thế kỉ trước- đã khá vất vả để xây dựng giai đoạn nền móng. Và các ngài đã “chịu những nắng nôi khó nhọc” (Ecclesia in Asia) riêng của thời điểm đó. Tôi nhớ, vào năm 65 cha cố tôi về phụ trách giáo xứ của tôi, lúc đó mới tách ra từ xứ chính. Tất cả còn rất sơ sài, hoang dã: nhà xứ là một ngôi nhà ba gian lợp lá, nền đất; nhà thờ là một ngôi nhà vách gỗ, cửa bằng phên tre; nhà bếp được trát bằng bùn quyện với rơm khô; chưa có nhà vệ sinh. Ngài về chỉ có ba năm mà các công trình cứ theo thứ tự ưu tiên xuất hiện: một ngôi trường tiểu học vừa dạy văn hoá vừa dạy giáo lí; một cây cầu bê tông thay cây cầu khỉ ọp ẹp nối hai bờ kênh để dân chúng qua lại; một ngôi nhà xứ kiên cố để chuẩn bị cho công trình nhà thờ. Ngài còn mua máy cày để cày cho dân, giúp tiết kiệm vốn đầu tư đồng ruộng. Với một quỹ thời gian ngắn trong hoàn cảnh thiếu thốn và khó khăn của chiến tranh kết quả đó là một cố gắng lớn. Thời gian một nửa thế kỉ đã trôi qua, thế mà bao nhiêu công việc đó vẫn cứ còn phải tiếp tục, phải duy trì. Và nhu cầu càng ngày càng mở rộng hơn, thôi thúc hơn.
Từ hoàn cảnh đó, nhìn rộng ra, một đường hướng mục vụ riêng được hình thành: vừa chăm lo linh hồn vừa phục vụ đời sống (cura animarum et cura corporum). Cũng có thể nói việc dạy dỗ phần thiêng liêng của các đấng được cụ thể hoá bằng những quan tâm cụ thể cho cuộc sống người dân. Theo hướng phục vụ này, mục tử chấp nhận nhiều hi sinh để “chiên được sống dồi dào”: hi sinh thời giờ, hi sinh sức khoẻ, hi sinh trí lực, hi sinh hưởng dùng, hi sinh an ổn. Đó là một cuộc sống bị đòi hỏi, bị thôi thúc và cả bị phân tán nữa. Nhưng làm sao có thể yêu thương phục vụ mà không cho đi (dù rằng có khi cho mà không yêu!). “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Môt...” (Ga 3, 16); “Như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hi lễ” (Ep 5, 2).
Do đó việc xây dựng cộng đồng giáo xứ bắt đầu và hoà nhịp cùng với những việc cụ thể của đời sống. Những việc trọng đại như xây nhà thờ, trường học, nhà giáo lí thì làm trước, rồi tiếp theo là lo đến việc an sinh xã hội, chăm lo cho đời sống bà con. Tôi không nắm được hết nhưng vẫn biết, trong tâm nguyện riêng của mỗi linh mục ở đây, hầu hết đều thầm dệt một ước ao thật thánh thiện: trong đời phục vụ của mình, nếu không làm được những việc cụ thể lớn lao như xây dựng nhà thờ, nhà xứ, trường học, lưu xá... thì cũng làm được một số việc khiêm tốn hơn như xây cầu, làm nhà tình thương, lắp đặt mấy cái giếng, hỗ trợ học sinh, mở tủ thuốc...để giúp dân nghèo, xua đi một phần đau khổ trong cái mênh mông nghèo nàn này.
Cũng tại đây tôi học được nhiều gương sáng phục vụ. Trước hết là cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, vị linh mục đặc trưng Nam Bộ. Ngay lúc còn sinh thời, ngài đã hết lòng lo lắng cho dân chúng, bất kể lương giáo. Vào giai đoạn gian nan bắt bớ, ngài đã bám trụ cùng với dân, chấp nhận đau khổ với mọi người để rồi sẵn sàng nhận cái chết đau đớn, rợn rùng. Ngày nay hình ảnh người cha nhân từ, hiền dịu này vẫn còn đem đến cho biết bao người đau khổ, túng nghèo niềm hi vọng và sự trợ giúp: bất cứ ai đến với ngài đều nhận được ơn lành: cả ơn vật chất và thiêng liêng. Vị thứ hai, vẫn còn sống đó là cha linh hướng của tôi. Từ khi ra phụ trách một họ đạo nhỏ vùng sâu của huyên Ô Môn, ngài đã quan tâm xây nhà tình thương cho các gia đình ở đây. Cách đây mấy năm ngài đã xây dựng được mấy chục cái nhà, mỗi cái theo thời giá khoảng năm, sáu triệu. Không biết bây giờ đã lên tới con số một trăm chưa, nhưng ngài vẫn cứ tiếp tục chương trình này. Rồi mấy người bạn của tôi ở miệt Cà Mau. Có lần đến thăm một người bạn ở huyện Cái Nước, Năm Căn, vào trong phòng khách nhà xứ, tôi thấy lổn ngổn mùng mền, những bao quần áo cũ, sách vở, đồ dùng học sinh, thuốc men... chất đầy một phòng. Anh cho biết những thứ đó, anh đi xin ở Sài Gòn để phát cho dân chúng ở đây. Còn nhiều tấm gương khác nữa, tất cả đều phục vụ những người nghèo theo chân Đức Kitô.
Có thể trong hoàn cảnh hôm nay việc phục vụ con người cụ thể càng trở nên cấp bách, bức xúc hơn khi chúng ta nhìn vào các con số thống kê buồn thảm mà những hội nghị chuyên đề gần đây về Đồng Bằng Sông Cửu Long đưa ra: trình độ văn hoá thấp nhất trong cả nước, xã hội phát triển chậm, đời sống người dân quá nghèo, tỉ lệ học sinh bỏ học mỗi năm đều tăng, tình trạng di dân ra các đô thị, các dịch bệnh phát tác trên diện rộng, môi trường sinh thái càng ngày càng xấu đi. Nhưng chúng ta phải xác định rõ: việc phục vụ chỉ là một phần trong đời sống linh mục. Luca ghi nhận: “Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9, 2). Có các lãnh vực hoạt động khác nhau của người môn đệ. Nói cách khác hoạt động bên ngoài không thể lấp hết đời sống linh mục. Chúng ta phải định hướng rõ, nếu không một số những hấp lực quen thuộc có thể làm chúng ta lạc hướng: hiệu năng và tính thực tế của công việc cuốn hút chúng ta, thành công và những mãn nguyện mơn trớn chúng ta, những dễ chịu và tình cảm của quần chúng thụ ơn vây quanh chúng ta. Người Việt mình vốn thực tế: “Có thực mới vực được đạo- manducare deinde philosophare” (tục ngữ).
Một linh mục ở một xứ đạo một thời gian mà không làm những việc cụ thể gì đó thường bị giáo dân phê phán là “cha chẳng làm được gì cả” dù thực tế ngài là một “mẫu gương” về sự chăm chú, mực thước, nhiệt thành trong việc cử hành các bí tích. Đây vừa là một thách đố vừa là một động lực tiềm ẩn có thể đẩy chúng ta đi trệch hướng, và thực tế cũng là khó khăn cho việc lãnh đạo giáo xứ. Trong cái nền chung của đời sống linh mục, việc nhấn nhá, đặt để quan tâm vào một mặt nào đó của đời sống có thể phác hoạ rõ nét, hoặc có thể làm trệch hình ảnh linh mục đi rất xa. Thực tế đã có nhiều gương để chúng ta thấy. Vậy hãy theo gương Chúa Giêsu: “Sáng ngày, Người đi ra một nơi hoang vắng. Đám đông đến tìm Người, đến tận nơi Người đã đến, và muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà đi. Nhưng Người nói với họ: ‘Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó’...” (Lc 4, 42- 43).
Còn nhớ hồi học ở ĐCV Thánh Quý, lúc đó ĐHY Mẫn làm giám đốc chủng viện. Cứ mỗi giờ huấn đức của ngài, ngài vẽ một vòng tròn trên bảng, có khi hai, ba vòng. Anh bạn phó lớp của tôi tính hay diễu, chế vào: “Một cái dzòng là ít chuyện, còn toòng teng hai cái dzòng là rất nhiều chuyện,...nói hoài sẽ không bao giờ hết...” Đúng là cái hình vòng tròn luôn mở đầu cho những lời giảng giải về trưởng thành tâm cảm (maturité sentimentale). Qua cái hình vòng tròn, ngài có ý nói đến sự thống nhất đời sống (integrity of life) của người linh mục coi xứ. Bởi vì linh mục có thể sống trong nhiều hoàn cảnh đối kháng nhau, có thể có những trạng thái cảm xúc tương phản nhau, có những phút thăng hoa trong cầu nguyện nhưng cũng nhiều lúc rất biếng trễ, lạnh nhạt, khô khan, yếu đuối..., rồi có thể có những áp lực đa chiều, cả những thành công và vấp ngã nữa...
Tất cả những chất liệu này cần phải được thống nhất lại trong một đời sống bình an, hài hoà, bản lãnh, xác tín, nghĩa là trở thành một đời sống trong suốt hình ảnh người mục tử phục vụ. Đó là một quá trình, và hẳn chúng ta đều đã trải nghiệm. Ơ đây chỉ nhắc đến kỉ niệm về chuyện cái vòng, có lúc tưởng là buồn tẻ, nhưng hôm nay lại rất thấm thía, sống động trong thực tế đời sống linh mục. Những môn đệ năm xưa được Chúa sai đi chỉ một thời gian ngắn đã trở về trong hân hoan thành công, trong ngất ngây kết quả. Còn chúng ta hôm nay càng dấn bước vào cánh đồng lúa chín (Lc 10, 2), chúng ta càng nhận ra chiều rộng mênh mông, chiều xa thăm thẳm của chân trời phục vụ. Viễn cảnh này không phải không có lúc đã làm chúng ta chùn chân bước và xốn xang lo lắng. Vì vậy trong khi cầu xin cho có nhiều thợ gặt thì chúng ta cũng cầu xin thêm ơn trung tín và phó thác trong sứ vụ.
Giuse Ngô Quang Trung