Ngày 14 tháng 8 năm 1968, 120 khuôn mặt non trẻ bịn rịn giã từ gia đình thân thương để nhập chủng viện Á Thánh Phụng Châu Đốc. Nhìn lại 40 năm rong ruổi đường gió bụi, tôi nhận thấy lớp Kolbe của ngày hôm nay đã bước đi một chặng đường dài với nhiều thay đổi và thăng trầm.
Thay đổi, đổi thay
Trước hết là thay đổi thánh bổn mạng lớp. Trong hai năm đầu huấn luyện, cả khối lớp 1968 đông đảo được ban Giám Đốc Chủng Viện chia thành hai nhóm lớp A và B, chọn hai thánh Gioan Bosco và Gioan Vianey dìu dắt. Niên khóa 1970-1971, hai nhóm lớp hợp lại thành một Lớp Đệ Ngũ (lớp 8). Tuy nặng lòng sùng kính và tri ân hai thánh quan thày Gioan, 89 anh em lúc bấy giờ xin hai đấng “hậu sinh khả úy” ấy bàn giao đoàn con cái ngỗ nghịch cho thánh Cả Giuse. Vị thánh khiêm nhường “làm cho cách ăn nết ở mọi nhà nên trọng” đã uốn nắn đoàn con của ngài trưởng thành hơn trong giai đoạn huấn luyện còn lại ở tiểu chủng viện. Cũng chính Đấng làm “cha kẻ khó khăn” đã dẫn dắt đoàn con vượt qua biến cố quan trọng 1975.
Sau khi đã ngâm nga bài thơ “Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa.....” 32 anh em được bề trên gọi về học Triết tại Đài Đức Mẹ năm 1976. Lúc này lớp gồm thêm cha Đảm, cha Chánh, anh Ren, anh Ruyễn, và anh Ru. Lớp xin đặt dưới sự cầu bầu và dẫn dắt của Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh. Thật đúng là hợp tình hợp cảnh, vì cha thánh tử đạo có kinh nghiệm kiên trì trong thử thách. Hơn nữa, ngài chịu chức linh mục khi đã tròn 48 xuân xanh. Chắc con cái của ngài cũng thế thôi! Năm 1982, cha Maximilien Kolbe được phong thánh và Giáo Hội ấn định kính nhớ ngài vào ngày 14 tháng 8 hằng năm. Một lần nữa, anh em ở Việt Nam đại diện cả lớp hát bài tạ từ Thánh Tịnh để ngài được lên chốn nghỉ ngơi: “Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người!” Đồng thời anh em mời Thánh M. Kolbe nhập chặng hành trình còn lại để ngài tiếp tục cầu bầu và nối kết những người con đã bước vào đời tu vào chính ngày mừng kính ngài.
Kế đến, có nhiều thay đổi nơi lớp 1968. Một số anh em đã được Chúa gọi về với Ngài để tiếp tay các thánh bổn mạng cầu bầu cho lớp. Nhu cầu của lớp bây giờ cũng tăng theo dân số. Ngoài những nhóm bắt đầu với chữ “Ông” như ông cha, ông bố, ông nội, ông ngoại, ông chánh trương, ông trùm, các thánh bầu cử còn thấy xuất hiện thêm các bà, các chị, các con, rồi các cháu nội ngoại nữa. Tiếng chúng đang vang cùng trái đất ở Việt Nam, Á, Âu, Mỹ, Úc ... Lời cầu thống thiết xin Chúa chúc lành cho việc mục vụ, cho ngôi nhà thờ đang xây dở dang, cho hôn nhân gia đình được yên vui đầm ấm, cho con cháu được ngoan ngoãn càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan và nhân đức, cho con dâu sinh nở được mẹ tròn con vuông. Có bạn còn xin Chúa gọi con mình trong đời sống tu trì để có cơ hội lên chức ông bà cố.... Thôi thì đủ mọi lời chân thành như trầm hương bay lên tới thiên đường.
Thăng trầm
Thực ra, chính 120 người con của năm 1968 cũng đã thay đổi và lớn lên như ơn họ xin cho con cháu họ bây giờ. Họ được tôi luyện để khôn lớn và trưởng thành qua nhiều giai đoạn và thăng trầm khác nhau. Tôi xin phép tản mạn đặt tên các giai đoạn nôm na theo những biến cố vui buồn của lớp.
1. Giai đoạn mặc quần soọc (short) và ăn bánh “không ngon mà bổ”
Đó là thời kỳ hai năm đầu ở chủng viện. Ngoài giờ kinh lễ và học hành, anh em vui vẻ mặc quần ngắn để cùng sắp sẵn sinh hoạt đoàn hướng đạo, để làm công tác vệ sinh, để chơi banh, để đi dạo ngày Chúa Nhật. Đang tuổi lớn, vào giờ “gouter” buổi chiều cuối tuần, anh em không nề hà xếp hàng để nhận bánh “không ngon mà bổ” (bánh do các chị nhà bếp làm bằng bột bắp hoặc bột mì nhào với đường sữa). Có anh em còn lấy sữa bột ở nhà cơm về dấu ở lớp học hoặc phòng ngủ để ăn bồi bổ thêm cho mau lớn. Cũng chính vì ước mong mau lớn và thói ham ăn, nhiều anh em đã được cha giám luật và hiệu đoàn trưởng cho đứng dưới sân cờ đếm lại những trái cấm (me, cóc, ổi, xoài) đã lỡ tay hái, như bà Evà, trong lần xuất du ở Núi Sam. Uốn nắn theo lối thiêng liêng, cha linh hướng Giuse Hoàng Minh Đường đã khéo léo chỉ dạy cách ăn chay, hãm mình rất thực tế: Thay vì cùng một lúc ăn hai ba miếng bánh, uống hai ba ly sinh tố, bốc hai ba trái, ta hãy tự chế lại dùng chỉ một mà chớ! Ăn chay là sống bác ái, hãy nghĩ đến người khác nữa! Ôi lời cha nhân thay, khoan thay, dịu thay!
Ngoài chuyện học ăn, anh em còn học nói. Đọc sách nhà cơm thì run rẩy và lắp bắp. Nhưng ra chốn thao tác thì trơn tru hùng biện không ai bằng. Phải kể đến tài đặt biệt danh (nick-name) để trêu chọc nhau. Ai cũng biết cha trưởng ban y tế đã khám xét rất ư kỹ lưỡng trong kỳ thi tuyển. Cha ngắm tới ngắm lui, soi lên soi xuống, đo trong đo ngoài. Rõ ràng cha chỉ nhận nam giới mà thôi. Thế mà chẳng bao lâu sau lại có tiếng gọi nhau rầm rì trong lớp “Cô Hương, Ma Soeur, Madame, Chị Doãn.” Ban giám sát thi tuyển bảo đảm tất cả những chú trúng tuyển là con người đàng hoàng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Thế mà chỉ ít bữa sau ban giám đốc chủng viện đã thấy xuất hiện những tạo vật khác như “Cò, Dế, Bướm, Heo, Cá Chốt, Sò, Hến.”
Tuy nhiên, bên cạnh những tham, sân, si và hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục, cùng tính trêu chọc nghịch phá của tuổi thiếu niên, anh em cũng chứng tỏ những tham gia công tác hết mình. Tay chân rất ư non yếu đến nỗi đá banh còn bị trật gãy phải bó bột nói chi đến chuyện xốc vác của người lớn. Nhưng những chú bé mang hai ba thứ tên ngộ nghĩnh ấy cũng đã biết góp phần xoa dịu những đau khổ mất mát của tha nhân. Phải kể đến chuyến ủy lạo các nạn nhân chiến cuộc ở quận An Phú, các chuyến làm công tác xã hội, việc xông pha đi cắt tóc cho các gia đình chiến binh ở Thất Sơn hoặc cho các anh lính chiến ở vùng biên giới xa xôi.
2. Giai đoạn mặc quần dài và “ăn... ý” với nhau
Những nhà giáo dục gọi đây là giai đoạn dậy thì. Tiếng nói bắt đầu vỡ, ngang không thể tả. Thày phụ trách ca nhạc không biết xếp anh em vào bè nào cho tiện. Chắc chỉ còn chỗ trong bè rối. Mà rối thật! Có lần anh em nhất tề đòi mặc quần dài thay vì loại quần soọc hướng đạo khi đi dạo vì tất cả nghĩ mình đã “nhớn” cả rồi! Ít gì cũng là lớp anh cả chứ nhỏ bé chi nữa! Bề trên thuyết phục sao cũng chẳng lọt tai. Kết quả, thay vì đi dạo, cha hiệu đoàn trưởng cho cả lớp đứng bên cạnh tượng đài Giuse để suy nghĩ về thái độ bướng bỉnh ấy. Lần khác, sau hai ngày trại ở sân bóng đá dịp Giáng Sinh, mọi người đều thấm nhuần tinh thần “Vâng lời mà không biện bác.” Cả lớp bị phạt vì không chà rửa nồi niêu xoong chảo sạch sẽ trước khi trả nhà bếp.
Để chứng tỏ tinh thần vui tươi khi bị phạt, một nhóm “bè rối” cất cao bài hát “Không phải là lúc ta ngồi đặt vấn đề nữa rồi! Phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới. Hằng chục năm qua ta ngồi ngó nhau, nghi ngờ nhau, khích bác nhau cho cay cho sâu cho thật đau...” Mọi người ăn ý hát theo hết bài. Lại một phen cả lớp được cha hiệu đoàn trưởng cho ngồi dưới nắng để suy nghĩ về hành vi nông nổi của mình. Ý tứ của lời ca nghe sao mà nhức nhối quá. Nó âm vang như tiếng hí của con ngựa chứng trong sân trường!
Thức ăn của tuổi mặc quần dài này không hẳn chỉ là cơm, bánh, sữa mà thôi, mà còn là ý hướng và ý tưởng. Các cha đã cung cấp lời Chúa như lương thực hằng ngày. Nhưng do trí tò mò và tưởng tượng thúc bách, có những anh bạn dám trùm mền rọi đèn pin đọc sách cấm. Có bạn viện cớ phải đọc “Hồn Bướm Mơ Tiên” và “Đoạn Tuyệt” để hiểu trọn vẹn nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Nhưng khi thứ tình yêu lãng mạn ấy chưa kịp ngấm thì anh em cả lớp đã thấm nhuần lời nhắc nhở và cảnh cáo của ban giám đốc.
3. Giai đoạn “Kén Rể”
Chuyển về Long Xuyên năm 1971, giai đoạn vị thành niên của lớp điểm thêm nhiều màu sắc và gia vị hơn nữa. Anh em háo hức mỗi lần có dịp ra dự và hát lễ ở Nhà Thờ Chính Tòa. Chiều hôm trước lễ, nhiều anh đã phải bớt ngủ để ủi quần áo và đánh bóng đôi giày bút-tin đen nhánh. Ở tuổi này, ngoài việc lễ lạy còn thêm chút mục “lễ liếc” nữa. Bên cạnh quần đen áo trắng đồng phục còn thấy xuất hiện quần trắng áo hồng. Có bạn được cha giám luật nhắc nhở sau khi ngài nghe tiếng than van từ xa vọng về. Thì ra bạn ấy bị hiểu lầm vì chiếc gương soi treo đầu giường phản chiếu ánh mặt trời dọi tuốt tới trường Trung Học Phụng Sự.
Tuy nhiên cũng có những bạn vượt qua gia đoạn dậy thì một cách êm ả và linh động hơn. Họ không lén lút đọc tiểu thuyết lãng mạn, nhưng biết ngồi quan sát, tưởng tượng rồi sáng tác cho bàn dân thiên hạ thưởng thức. Điển hình là cha Phạm Minh Tâm với những câu chuyện ngắn viết cho Nguyệt San Lên Đường. Hoặc cha Châu Hoàng Ngọc vừa viết vừa đạo diễn vở kịch “Kén Rể”. Đây là vở ca hài kịch chính trong tối văn nghệ Đêm Màu Hồng để kỷ niệm 100 năm sinh nhật thánh nữ Têrêxa năm 1972. Ngòai các đấng bậc và quan khách xa gần, nhiều phụ huynh khả kính về họp mặt gia đình Chủng Viện có dịp cười thoải mái, quên đi sự mệt mỏi do mất ngủ vì lạ giường lạ chiếu. Ngoài ra, tài nghệ trong giai đoạn đầy nhiệt huyết này còn phát triển trong các lãnh vực khác như ca nhạc, khánh tiết, thể thao. Nhiều bạn như Nguyễn Văn Tuyến và Ngô Đình Tuấn nổi danh vì bơi qua bơi lại nhiều lần ngang giòng An Giang sông sâu nước biếc mà không biết mệt mỏi. Tuyến còn là một tay cầu thủ bóng chuyền tuyệt vời của lớp.
4. Giai đoạn “Trai Thời Chinh Chiến”
Tháng 5 năm 1974, Chủng viện Têrêxa chuyển xuống Rạch Giá. Vì lớp chúng tôi là anh cả trong giai đoạn này nên được bề trên trao trọng trách di chuyển tất cả đồ đạc như bàn, ghế, giường, tủ, sách vở thư viện, đồ thờ phượng... từ Long Xuyên xuống chủng viện mới trước khi đi nghỉ hè. Sứ vụ hoàn thành mà không bị mất mát hoặc bể nát. Tuần lễ trước Giáng Sinh cùng năm, khi vừa mới ổn định chỗ ăn ở để lo học hành, anh em liền bắt tay vào việc tổ chức Lễ Bế Mạc Năm Thánh của toàn Giáo Phận Long Xuyên tại khuôn viên chủng viện. Một lần nữa các tài năng trẻ lại có dịp xuất chiêu. Ngại gì mưa rơi, ngại gì gió biển, ngại gì nước mặn, ngại gì đất sình lầy lội. Nhưng rồi ai cũng e ngại khi ngồi học mà nghe tiếng súng nổ vang rền. Hoang mang và thổn thức hơn khi nghe tiếng gọi động viên. Không hiểu những người con của lớp giờ này ở đâu và những chuyện gì xảy ra nếu biến cố 1975 đến trễ hơn.
5. Giai đoạn “Thử Lửa”
Chủng viện Têrêxa giải tán ngay trước biến cố lịch sử của đất nước. Ai về nhà nấy. Một số anh em bắt buộc phải chuyển hướng. Nhất là những anh em sống ở ngoài địa phận Long Xuyên. Số còn lại đi giúp xứ trong các tỉnh An Giang, Châu Đốc, Kiên Giang. Đây đúng là giai đoạn thử lửa. Mọi người đều cảm thấy lực bất tòng tâm. Trong tâm trạng ấy, anh em cảm thấy thấm thía câu hát hiệu triệu “Đi cùng đi, nhịp theo bước đường xa cố gắng tiến lên! Hỡi chủng sinh hiến thân đời ta cho hy sinh” của bài “Chủng Sinh Long Xuyên Hành Khúc.” Nhưng cũng chính trong giai đoạn này mà anh em trở nên gắn bó với nhau hơn, vững mạnh và trưởng thành hơn. Giữa năm 1976, lớp Triết quy tụ lại đa số khuôn mặt cũ nhưng với tinh thần mới tại Đài Đức Mẹ Tân Hiệp. Tự tin, năng động, chín chắn, kiên trì thay thế cho tính rụt rè, thụ động, trêu chọc và quậy phá của thời tiểu chủng viện ngày nào.
Hơn nữa, trong cái cơ cực của cuộc sống hằng ngày và sự bấp bênh khi nhìn về tương lai, anh em lớp vẫn tiếp tục chia sẻ với nhau tình huynh đệ và niềm hy vọng. Tình anh em được thể hiện qua lời cầu thánh vịnh đã được dí dỏm đổi lại cho phù hợp với hoàn cảnh gánh lúa ở Kinh 10: “Thức dậy đi hỡi ‘đòn sóc đòn càn’ (đàn sắt đàn cầm); để ta thức tỉnh ánh bình minh.” Chưa kể những giờ lao động tại sân Đài Đức Mẹ trước ánh mắt thông cảm của các em học sinh cấp III khả ái của trường Thái Hòa; những buổi sáng sớm đạp xe ba gác đi bán rau; những buổi chiều đi lấy trấu về đun bếp; và những đêm thay phiên nhau giữ cột lều trong cơn mưa giông tại vùng thủy lợi ở chân núi Ba-Thê.... Xem ra nhóm tư vấn và canh nông bận rộn hơn cả nhóm học vụ hoặc ca nhạc.
Trong thời gian khó khăn này, lớp được chúc lành và sự hướng dẫn của các cha Phaolô Đỗ Văn Lịch, Phêrô Chu Quang Tào, Giuse Đinh Hữu Huynh, và Giuse Nguy?n Văn Tiếu. Anh em hẳn còn nhớ hoài hình ảnh thánh lễ sống động do cha Chu Quang Tào cử hành ở bờ ruộng kinh 10. Bàn thờ là tấm bàn cờ tướng đặt trên chiếc phi đựng nước. Anh em vây quanh dự lễ với vẻ mặt lem luốc nhễ nhãi mồ hôi. Vâng! Này từng giọt mồ hôi! Các dì Mến Thánh Giá Hà Nội đã trở thành những người bạn đồng hành, âm thầm và khiêm tốn phục vụ. Tôi nhớ hoài những bữa ăn rau muống dầm tương, muối mè đạm bạc, nhưng chan chứa tình người của các Dì. Các Dì còn tích cực tham gia những bữa anh em hào hứng ngả heo do chính tay các dì nuôi, kịp ra thịt dự trữ lương thực cho những ngày bận rộn thu hoạch mùa màng.
Cũng trong giai đoạn “đòn sóc đòn càn” này mà những nhạc sĩ của chúng tôi có cảm hứng sáng tác. Cha Mộng Huỳnh với bài “Chiều Về Trên Đài Đức Mẹ.” Tôi thực thấm thía khi nghe lời cha ca vọng lên từ phòng ngủ: “Chiều ơi! Hỡi chiều! Chiều từng chiều đếm cô liêu. Chiều ơi! Nét chiều in nắng hạ, thấy mình nay bỗng lạ, tương lai chừ trắng tay!” Tôi cũng cảm được nỗi day dứt khi nghe cha Châu Hoàng Ngọc ca bài “Chiếc Áo Dòng Đen” do cha Mộng Huỳnh viết thành nhạc, dựa theo lời khuyên tâm huyết ngày nào của cha Giám Đốc Lê Văn Quan trước khi anh em rời chủng viện Rạch Giá: “Tôi quấn một vành khăn cho khổ đau nơi trần thế. Tôi quấn một vành tang vì yêu mến Chúa rất chân thành. Tôi để tang cuộc sống khi con tim sục sôi lửa nóng. Tôi hiến trao thân mình, không vấn vương tơ tình, cho nhân thế vì anh em. Đây tấm áo dòng màu đen, đây tấm áo dòng màu tang, tôi chết cho tôi, tôi chết cho đời. Chôn những ước vọng tuổi xuân....”
Sau hai năm Triết, cả lớp không được phép học tiếp khóa Thần học ở Long Xuyên. Tan bầy trở về xứ sở địa phương, anh em tiếp tục ca những cung trầm và tha thiết như thế trong mỗi hoàn cảnh sống và làm việc của mình.
6. Giai đoạn “Nối Vòng Tay Lớn”
Những năm tiếp theo, một số anh em rời xa quê hương yêu dấu, tản mát khắp năm châu. Cha Mộng Huỳnh và tôi thuộc số những anh em này. Cùng sống tại Úc mà hai người ở hai phương trời cách biệt cả 4000 cây số: Cha Huỳnh làm cha sở ở Perth; tôi làm việc ở Melbourne. Sau đó tôi được bề trên đóng thùng gởi tới Manila cho tới hôm nay khi đang ngồi viết bài này. Anh Phạm Văn Nghĩa cũng ổn định gia đình ở Melbourne, bây giờ thâm trầm hơn và dành nhiều thời giờ cho công tác xã hội. Các bạn Đỗ Ngọc Việt, Nguyễn Quang Minh, Phạm Thế Hồng định cư ở Sydney; và Nguyễn Ngọc Tân, Nguyễn Minh Tâm, Phạm Văn Bình, Phạm Văn Tỉnh ở Brisbane. Tất cả đã có gia đình đề huề, con cái khôn lớn. Thời gian phải bươn chải cho cuộc sống cũng là lúc anh em tiếp tục phát huy tài năng trong môi trường cộng đồng xứ đạo mới.
Nhiều anh em kiên trì ở lại chờ đợi có một ngày mai tươi sáng hơn. Rồi kẻ trước người sau lần lượt bước lên làm cha cụ hay làm bố đời! Nhiều bạn đã tường thuật chi tiết theo sinh hoạt của từng người, từng miền, từng vùng. Vì thế tôi chẳng dám ho he múa rìu qua mắt thợ nữa, chỉ xin rửa mắt để thưởng thức những thiên phóng sự hoặc bút ký tuyệt vời của các bạn.
Chân trời hé mở. Điều kiện dễ dàng hơn. Nơi gần có thể tới, nơi xa vẫn có thể về. Những cuộc họp mặt theo nhóm, miền, vùng nối tiếp nhau. Ngồi lại với nhau để chung vui xẻ buồn vào những dịp lễ truyền chức, cưới hỏi, hoặc tang chế. Dịp kỷ niệm 40 năm vào chủng viện của lớp Maximilien Kolbe phải chăng là những ngày nối vòng tay lớn. Tạ ơn Chúa đã lưu giữ chúng con lại trong tình mến. Tạ ơn Chúa đã dẫn chúng con đi. Tạ ơn Chúa đã đưa chúng con về. Xin chân thành tri ân các vị ân sư và quý ân nhân đã giúp chúng con thành nhân, thành thân, và là người con của Giáo Phận Long Xuyên.
Pet. Phạm Văn Ái