<%@LANGUAGE="JAVASCRIPT" CODEPAGE="CP_ACP"%> Untitled Document

Bạn Thục kêu gọi anh em đóng góp cho trang Web của lớp còn qúa mỏng bài vở. Mình xin được chia sẻ về ngay chỗ mình đang thăm, đảo Hawaii.

Từ phi trừơng LAX tại Los Angeles lấy máy bay đi Honolulu thuộc Hawaii mất khoảng 6 tiếng đồng hồ, bay vào giữa Thái Bình Dương. Trên độ cao gần tới Hawaii, các hòn đảo xuất hiện mờ mờ như những vạt cỏ trôi trên nền nước mênh mông. Hawaii là một quần đảo, có khoảng 120 đảo nhỏ. Trong số này có 7 đảo được du khách biết đến, với những tên: Maui, Kahoolawe, Molokai, Oahu, Kauai, Lanaii, Hawaii; các đảo này đều có dân cư.

Xứ đảo du lịch này rộng gấp khoảng 14 lần đảo Phú Quốc (16.757 km2) bao trùm văn hoá Polynêsi mà đặc trưng là những thổ dân trang phục “cực kì nghèo nàn” bằng những chùm hoa lá, say sưa uốn mình trên những nhạc cụ dị lạ, âm u một nền nhạc kì bí; là những chiếc mặt nạ bằng gỗ chạm khắc những hình thù quái dị biểu trưng các vị thần trong tín ngưỡng dân gian; là những bộ tộc sông tập thể theo huyết tộc…Nghe nói cha ông của thổ dân này đã có mặt rất sớm, từ những năm 500 - 600 AD.

Người tây phương đầu tiên đến đây là thuyền trưởng James Cook; ông đến năm 1778 và đặt tên cho quần đảo này là Sandwich Islands để tôn vinh một vị bá tước đi theo đoàn thám hiểm mang tên này. Dấu vết văn hoá sót lại chỉ còn thấy được qua các tên đường và những chiếc mặt nạ bằng gỗ bày bán trong các cửa hàng để làm đồ lưu niệm cho du khách. Thật vậy, con người và văn hoá Polynêsi đã bị lai tạp nặng nề. Trong số khoảng 1, 2 triệu dân cư thì 31% là dân Hawaii đã lai chủng; 25% là người haoles – da trắng; 24%: Nhật; 12 % Philippines; 5 % Trung Hoa; 1% Hawaii là thuần chủng…Chắc chắn ta không thể đi mọi ngõ ngách để tìm hiểu cho hết nền văn hoá không mấy gần gũi với chúng ta.

Hãy dành một ngày đến khu du lịch mang tên Polenysian Cultural Center, ta sẽ được ngoạn cảnh và tìm hiểu một khu làng Polynêsi thu nhỏ. Sẽ có những show diễn trình bày những sinh hoạt và tập tục người dân Polynêsi; sẽ có những hướng dẫn viên hướng dẫn bạn đánh trống, câu cá, đan lát, đánh lửa…và dùng một bữa cơm trưa in Polynesian way, nếu bạn muốn, nhưng giá cũng thật “nhót”, trọn gói là 150 USD dành cho người ngoại quốc. Buổi tối bạn được tham dự một show diễn dài khoảng một tiếng rưỡi tràn ngập những điệu múa dân gian, rất sống động và đa dạng về loại hình, nhưng thú thực ta không thể hiểu hết ý nghĩa sử thi trong các làn múa ấy. Nói chung, có rất nhiều hình thức vui chơi, giải trí, học hỏi phục vụ các khách du lịch.

Buổi sáng hôm nay trời nắng rực, với nhiệt độ đang dần vào hè thật lí tưởng, 70 độ F. Thời tiết Hawii không phải lúc nào cũng hiền hoà dễ mến; người dân ở đây cho biết có những ngày cực nóng chẳng kém khí hậu Việt Nam, có những ngày mùa đông thật lạnh, và có những ngày mưa không dứt. Nhưng hôm nay trời trong xanh hoà với màu xanh của một thảm thực vật thật phong phú, mà các nhà chuyên môn cho biết có khoảng 30 ngàn chủng loại khác nhau. Những cây trái thường thấy ở Việt Nam như xoài, đu đủ, cây bàng, cây dừa, hoa dâm bụt… đều thấy có ở đây; nhưng trái cây ở đây tuy giống Việt Nam về loại, nhưng lại có một hương vị khác hẳn, chẳng hạn nhãn ít ngọt hơn và ít thơm hơn; còn xoài lại có một mùi thơm rất đặc biệt và một màu đỏ thẫm tía; đu đủ nhỏ hơn, nhưng ngọt hơn và thơm hơn; chùm hoa đại nhỏ hơn, nhưng không có mùi thơm mấy…Đặc biệt nước biển có một màu xanh rất đậm, trời càng nắng càng xanh, tôi đoán chừng phải xanh gấp mấy lần màu xanh của biển Nha Trang hay Hạ Long. Hoà mình giữa một màu xanh của đất trời, cây cỏ, đại dương tôi cảm nhận một sức sống mãnh liệt. Bỗng nhớ tới một câu nói của ai đó, “Mer, c’est la mère de la vie” (Biển là mẹ của sự sống), tôi ngụp sâu xuống đáy nước rồi ngậm phồng một miệng nước biển; vị nước ở đây có vẻ như mặn hơn vị nước biển của quê hương.

Người ta gọi Hawaii là thiên đường du lịch, là nơi cuốn hút các cặp tình nhân đi hưởng tuần trăng mật. Nếu có một thiên đường như thế, tôi nghĩ, là do con người biết nỗ lực cộng tác một cách sáng tạo vào công trình của Thiên Chúa. Đúng vậy, thành phố du lịch này mỗi năm thu hút khoảng 7 triệu du khách thế giới (hình như gấp khoảng 5 hay 6 lần du khách đến Việt Nam, tôi không nhớ rõ), góp vào cho tổng thu nhập quốc gia một phần không nhỏ. Nằm giữa Thái Bình Dương, nó có một cảnh quan và một vị thế không khác mấy với Phú Quốc. Xét riêng về bãi tắm, chắc không có bãi nào ở đây qua mặt được với bãi Khem của Phú Quốc. Bãi Khem có dải cát trắng mịn trải dài ra một độ sâu tăng dần khoảng 100 mét, rất lí tưởng để tắm. Còn ở đây cát không mịn, không trắng và nghe nói người ta phải mang từ New Zealand sang, trải phủ các tầng đá để tránh cho du khách bị cứa chân. Trong thành phố có rất nhiều khách sạn lớn, từ bình dân đến sang trọng, vươn cao lên trên nền trời; có các hàng quán, các dịch vụ du lịch, được tổ chức trong một Mall (khu chợ) rất trật tự, sạch sẽ. Có một khu China Town khá rộng, sinh hoạt sầm uất, bày bán các sản phẩm, đồ ăn uống á châu. Đường đi lối lại trong thành phố chắc chắn không được rộng như trong đất liền, nhưng khá sạch và được tạo cảnh đẹp thật hài hoà. Nhìn tổng quan, thành phố thật quyến rũ và thơ mộng, nhờ được phối hợp một cách sáng tạo giữa ưu điểm thiên nhiên và kĩ nghệ hoá cao độ: nó không phá vỡ những trật tự của thiên nhiên, nhưng biến đổi và thăng hoa. Thật buồn cho Phú Quốc và cho những điểm du lịch của chúng ta!

Không thể nào không để mắt đến các khách du lịch. Họ đi giữa tôi; tôi lạc vào thế giới của họ. Họ cuốn hút tôi không kém mạnh mẽ. Các khách du lịch gồm đủ các màu da, vui đùa, cười nói, nhí nhố những ngôn ngữ khác nhau. Tôi để ý đến những nhóm dân người Nhật đông một cách nổi bật. Họ đi theo đoàn rất đông theo lứa tuổi trung niên và lớn tuổi; và từng cặp theo tuổi trẻ. Họ có vẻ thoải mái và tự tin; tôi đoán chắc họ cũng là những nhóm tiêu xài rộng rãi nhất. Tôi tham dự một “ tour submarine” (tàu ngầm) để xem cá biển, giá khá “cứng” nhưng hầu hết các khách trong chuyến tàu ấy là người Nhật. Giá trị tiền Nhật cao và chính phủ Nhật khuyến khích dân đi du lịch để quân bình đồng tiền của họ đã tạo cho dân Nhật nhiều cơ hội đến với các nước thiên hạ. Bỗng tôi nhớ đến đọan văn của Dương Thu Hương trong “Những thiên đường mù”, bà tả với giọng u buồn một nhóm bạn trẻ Nhật đứng chờ xe mà tự tin tin một cách kiêu hãnh giữa những nhóm bạn trẻ Việt Nam tại một nhà ga Hà Nội. Một chút buồn tủi chợt dâng lên chặn lại những suy nghĩ miên man lặng lẽ…

Đến Hawaii không thể không nói đến những sự kiện lịch sử đã được thế giới biết đến: trận Trân Châu Cảng (Pearl Habor) trong chiến tranh thế giới II và địa danh của “Vị Tông Đồ Người Cùi”, Cha Damien (Joseph de Veuster) trên đảo Molokaii. Chúng ta đã biết sự kiện lịch sử: ngày 7 tháng 12 năm 1941 phi đội Nhật do những chiến sĩ cảm tử điều khiển, bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng, một căn cứ Hải Quân Mỹ trong Thái Bình Dương. Bị đánh bất ngờ, chỉ trong một thời gian ngắn, 5 trong số 8 tàu chiến của Mỹ bị chìm; nhiều cảng và máy bay bị phá huỷ cùng với 2400 lính và thường dân bị giết. Mỹ quyết định nhảy vào vòng chiến… Nơi ngày xưa phi đội Nhật đã ào ạt oanh kích và đã đi vào lịch sử chiến tranh thế giới là trận Trân Châu Cảng nay trở thành điểm du lịch, lôi cuốn nhiều du khách. Người ta cũng đã dựng một chuyện phim, lồng vào bối cảnh trận chiến này một bi kịch của tình yêu, đã xuất hiện khá lâu ở Việt Nam, có nhiều người chúng ta đã xem. Du khách đến đây có thể vào một bảo tàng viện nhỏ để xem những hình ảnh, những tài liệu, những di tích phục chế về trận chiến; rồi được xem một đoạn phim ngắn chừng 20 phút tóm tắt diễn tiến trận chiến, sau đó được chở đến xem chiến hạm Arizona bị chìm. Trên xác chiến hạm này, người ta xây một cái nhà mang hình chiến hạm xưa để làm di tích cho thế hệ sau. Trên mặt một bức tường, tên của các chiến sĩ tử trận được viết bằng nét chữ rất rõ và được trang điểm một cách kính cẩn. Thời gian 65 năm trôi qua đã gần như xoá nhoà tất cả. Vài cột thép của chiếc tàu chiến dũng mãnh năm xưa nằm chao nghiêng trên măt nước biển, đã bị ô-xít hoá nặng nề, sắp bị phân hủy hoàn toàn. Dòng nước biển thẫm xanh vẫn đều đều trườn vào bờ cát. Du khách chen chúc nhìn ngó, ngắm nghía một cách chăm chú những gì còn sót lại. Tôi không biết lòng họ nghĩ gì! Riêng tôi, một dòng tâm tư vang lên: Đời sao mãi chênh vênh niềm khắc khoải Ngoái nhìn lại vỡ oang môt tiếng cười

Trước tiên, xin nói một chút về giáo phận Honolulu. Tôi không nắm được số liệu chính thức, nhưng qua những gì cha xứ ở đây cho biết, thì giáo phận này có khoảng hơn 200 nghìn giáo dân với khoảng 60 linh mục, gồm 1 phần ba là người gốc Philippines, 1 phần 3 khác là các linh mục dòng, số còn lại là của giáo phận. Có 5 cha Việt Nam trong giáo phận này; cha phụ trách cộng đồng Việt Nam là Vincentê Nguyễn Văn Kiên gốc Long Xuyên, lớp Vô Nhiễm. Một điều đáng chú ý là các linh mục Phi có một số từ các giáo phận của Philippines sang đây làm việc theo một hợp đồng nào đó giữa hai giáo phận. Họ làm việc tích cực, nói tiếng Anh trôi chảy, hoà nhập ngay với địa phương nơi đến.

Thật ra, họ chỉ phục vụ cộng đồng người Phi chiếm khá đông tổng số tín hữu của giáo phận này. Những ưu điểm của các linh mục Phi có thể nhiều hơn nữa; nhưng nghe nói khi hợp đồng mãn hạn, họ không chịu trở lại địa phận gốc mà tìm cách ở lại Mỹ. Bằng chứng là khi nói chuyện với một linh mục Phi đang ở tại đây, tôi nói tôi sắp trở về lại Việt Nam vì đi lâu mấy tháng, cảm thấy nhớ xứ đạo. Vị linh mục này cứ thuyết phục tôi với long tốt chân thành: “ …You shoud stay here to help father Vincent… This is a better place…The Church is universal…Everywhere is a parish…” Khi đến giáo phận New York, tôi cũng thấy khá nhiều linh mục gốc Nam Á (Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanka) làm việc hoặc sang du học; nhưng cũng được nghe nói là nhiều người trong số họ tìm cách ở lại Mỹ. Cộng đồng giáo dân Việt Nam ở đây quy tụ được trên một nghìn giáo dân, tại giáo xứ thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, do một cha người Mỹ làm chánh xứ. Những ngày ở đây, tôi được dâng lễ chung với cộng đồng và có nhiều cơ hội để tìm hiểu đời sống của người giáo dân. Họ có sinh hoạt riêng theo cách tổ chức của giáo xứ Việt Nam. Nói chung họ gắn bó với cộng đồng, tích cực tham gia các hội đòan và giữ đạo tốt. Có nhiều hội đoàn được tổ chức trong cộng đồng Việt Nam: Thiếu nhi Thánh Thể, Cursillos, Hiền mẫu, Legio Mariae. Có những gia đình đến đây rất sớm, ngay khi Sài Gòn thất thủ, họ được tàu Mỹ chở thẳng đến Guam rồi được xếp về đây. Những gia đình này đã hội nhập sâu xa vào xã hội Mỹ, và có đời sống kinh tế ổn định.

Đảo Molokai là một trong những hòn đảo thuộc giáo phận Hawaii. Đó là một trong hai đảo nhỏ nhất trong chùm đảo ở đây, diện tích còn nhỏ hơn Phú Quốc, khoảng 800 km2 (Phú Quốc 1345 km2). Người ta cho biết đây còn là nơi hoang sơ và ít dân, khoảng 7000 người. Chính tại đây, cha Damien (Joseph de Veuster) đến phục vụ những người bất hạnh, những bệnh nhân bị cùi. Ngài sinh tại nước Bỉ ngày 3 tháng 1 năm 1840. Vào chủng viện Thánh Tâm Chúa Giêsu ở Louvain, ngài đến phục vụ tại đảo ngày 19 tháng 3 năm 1864, rồi chịu chức linh mục tại Honolulu cũng năm đó, ngày 24 tháng 5; mất tại đảo Molokai 1889, hưởng thọ 49 tuổi. Ngài được an táng cạnh nhà thờ thánh nữ Philomena do chính ngài xây, nhưng hài cốt sau đó được chuyển về Bỉ năm 1936. Ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong lên bậc chân phước năm 1995. Như vậy đúng một nửa cuộc đời ngài dành cho những người cùi Molokai. Khu dành cho những nạn nhân của vi trùng Hansen tên là Kalaupapa, nằm phía bắc đảo, được lập năm 1860, lúc cao điểm số bệnh nhân lên đến hơn một nghìn. Hoàn cảnh những bệnh nhân nhiễm cùi ở đây trước lúc cha Damien đến cũng giống như những bệnh nhân ở trại cùi Di Linh. Họ bị bỏ rơi, sống lây lất, hoang dại trong những bụi cây và các hốc đá. Cha Damien đến chia sẻ cuộc sống với họ. Ngài dựng nhà thờ, nhà cửa, nhà thương, học đường…rồi kêu gọi các chính phủ, các cơ quan từ thiện quốc tế giúp đỡ những con người xấu số ấy. Cuộc sống những người này được thay đổi, họ bắt đầu được sống như một con người. Hồi còn nhỏ đọc câu chuyện kể về vị “Tông Đồ người Cùi” tôi rất cảm động. Nay có dịp được đến vùng đất này, tôi rất muốn đến tận nơi chiêm ngưỡng một vị “Cassaigne của Việt Nam”, nhưng thời gian và phương tiện không cho phép. Hình ảnh vị Linh mục đôi cái mũ đen rộng, khuôn mặt sần sùi, lỗ chỗ những mụn nhọt lại hiện lên sống đọng trong tâm trí tôi. Một lời kinh bỗng gõ nhẹ đáy hồn tôi.

********

Những ngày ở Hawaii trôi qua mau, tôi sắp phải rời đây, chuẩn bị quãng đường trở lại Việt Nam nhưng lòng còn tiếc vì chưa được đi hết . Tôi cảm thấy thích thú được “welcomed to Hawaii”, được đến một nơi đẹp đẽ, thanh lịch, đầy sức sống và hiếu khách. Tôi tạ ơn Chúa đã cho tôi thêm cơ hội được biết và cảm nhận những vẻ đẹp muôn màu của cuộc sông. Và xin được chia sẻ “dông dài” với anh em như một chút đóng góp vào trang web của lớp mới khai trương.

Xin cảm ơn!
Giuse Ngô Quang Trung

WELCOMED TO HAWAI’I