<%@LANGUAGE="JAVASCRIPT" CODEPAGE="CP_ACP"%> Untitled Document

Hai mươi năm người ta cho là một khoảng thời gian dài. Đối với tôi, hai mươi năm vừa dài lại vừa ngắn. Nhìn về phía trước thì hai mươi năm quả là dài đằng đẵng, nghĩ mình còn phải vượt qua một đoạn đường hai mươi năm với biết bao gian truân, với những điều sẽ xẩy ra mà mình không biết trước được thì thật là ngao ngán. Thế nhưng, nếu nhìn lại đoạn đời hai mươi năm mình đã đi qua thì lại cảm thấy nuối tiếc sao thời gian trôi nhanh quá. Lúc đó mới thốt lên rằng: ồ mới đây mà đã hai mươi năm rồi. Người ta đã chẳng nói '' thời giờ như thoi đưa '' đó sao. Đúng vậy, thời giờ không chỉ như thoi đưa mà còn nhanh như tần số của một máy điện toán trong thời đại tin học ngày nay nữa.

Tôi, một thanh niên 26 tuổi, tuổi mang đầy nhựa sống, tuổi tràn trề hy vọng, tuổi đầy ắp yêu thương đã cùng với hàng trăm bạn đồng hương đặt chân tới miền đất tự do để bắt đầu cuộc sống tha hương mà chúng ta mệnh danh là ''cuộc đời tị nạn''. Chúng tôi đã đặt chân tới nước Đức - quốc gia mà chúng tôi đã chấp nhận làm quê hương thứ hai - vào một buổi sáng mùa thu với sương mù phủ kín bầu trời, đó là ngày 04.11.1981, mới đây mà đã 20 năm tròn.

Đức quốc, một quốc gia mà hồi còn ở Việt Nam chúng tôi chỉ được biết sơ qua khi học về lịch sử thế giới. Sự hiểu biết của chúng tôi về nước Đức hồi đó thật là quá ít để chúng tôi có thể hình dung được địa thế, con người và cuộc sống của họ khi chúng tôi biết sẽ được định cư ở Đức. Sự hiểu biết thực sự quá ít đến độ lá cờ của Đức như thế nào chúng tôi cũng mù tịt. Do đó, khi tàu Cap Anamur của Đức với lá cờ khá lớn từ từ tiến tới ghe tị nạn của chúng tôi để cứu vớt, tất cả chúng tôi đã chẳng ai nhận ra là tàu của Đức. Người này hỏi người kia : tàu của nước nào vậy ? cờ của nước nào vậy ? Chẳng ai biết.

Mọi người chúng tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì sắp được cứu sống, lo vì lỡ phải tàu của Liên Xô thì kể như chuyến đi của chúng tôi thất bại. Đến khi tàu đã tới sát ghe và trên tàu có tiếng người Việt Nam nói vọng xuống : ''Đây là tàu Tây Đức .....'' ai nấy mới thở phào vui sướng. Dù biết rất ít về nước Đức, chúng tôi vẫn chấp nhận quốc gia này làm nơi dung thân và làm quê hương thứ hai của thân phận tị nạn. Vì chúng tôi là những người đi tìm tự do chứ không phải đi tìm đất sống.

Sau hơn 10 tiếng đồng hồ bay, khoảng 7 giờ sáng chúng tôi được thông báo : máy bay chuẩn bị hạ cánh xuống phi trường Frankfurt, mọi người cài dây an toàn. Từ cửa sổ chiếc DC-10 của hãng hàng không Lufthansa tôi nhìn xuống dưới qua những làn mây mỏng thấp thoáng những mái nhà ngói đỏ. Cảnh vật rất lạ đối với tôi, vì có lẽ đó là lần đầu tiên tôi được nhìn từ trên cao xuống và chắc chắn cảnh vật ở đây cũng khác hẳn cảnh vật của quê hương tôi. Những mái nhà rõ dần, rõ dần và cả một thành phố hiện ra trước mắt. Lòng tôi lúc đó thật bâng khuâng, một thoáng suy tư len lén vào hồn tôi lúc đó.

Đây, quê hương thứ hai của tôi, sau bao ngày tháng đợi chờ hôm nay tôi đã toại nguyện. Đúng vậy, tôi đã được toại nguyện, nhưng một cảm nghĩ làm tôi thoáng buồn và một phút ngậm ngùi trổi dậy trong lòng tôi. Tôi được một nhưng cũng mất đi một : quê hương thứ hai tôi đạt được thì quê hương thứ nhất của tôi giờ đây lại xa thêm hàng vạn dặm nữa. Tôi sực nhớ những người thân nơi ngàn trùng cách biệt mà tôi đã đành bỏ lại không biết ngày nào mới có cơ hội gặp lại : cha mẹ, anh em, bà con, biết bao người thân, nhất là vợ con tôi. . .

Dù mừng nhưng lòng tôi không tránh khỏi bồi hồi. Trước đó hơn 10 tiếng đồng hồ tôi cũng đã hồi hộp và bồn chồn khi xách túi hành trang bước lên máy bay. Bây giờ chuẩn bị xách hành trang xuống khỏi máy bay tôi cũng hồi hộp. Một cảm giác hồi hộp nửa mừng nửa lo. Mừng vì đã đến nơi mình muốn đến, lo vì từ nay cuộc sống và tương lai không biết ra sao. Quê hương thứ hai đang đón chào tôi, một con người xa lạ đến từ một vùng trời xa thẳm.

Với tâm trạng nửa vui nửa buồn tôi xách túi hành trang theo gót đoàn người tiến vào tòa nhà của phi trường. Nói là hành trang cho bớt phần hổ thẹn, thực ra hành trang của chúng tôi - những người tị nạn từ các trại Đông Nam Á - có gì mà đem theo, có chăng chỉ mấy bộ quần áo tầm thường có thể do cao ủy tị nạn cấp phát. Riêng tôi không có gì quí hơn ngoài bộ đồ tôi mặc trên người. Đó là một bộ đồ bốn túi trông khá lịch sự mà thời xưa người ta thường mệnh danh là '' bộ đồ ký giả ''.

Bộ đồ tôi đã đem theo lúc vượt biên nhưng thời gian ở trại tị nạn tôi đã không dùng mà để dành cho chuyến đi định cư này. Thành thực mà nói thời buổi đó bận bộ đồ này trông khá '' bảnh '' chứ không đến nỗi tệ. Nhưng tiếc rằng tuy vải áo khá dầy nhưng lại ngắn tay không thích hợp với khí hậu lạnh như cắt da của xứ mà chúng tôi được định cư. Mặc dù mới chỉ giữa mùa thu nhưng khí hậu của Đức trước đây 20 năm đã rất lạnh. Chúng tôi đã đến đây giữa cái lạnh này chỉ với những bộ đồ mỏng manh của miền nhiệt đới. Đến nỗi mấy ngày đầu mới tới trại tạm cư, anh thông dịch viên dẫn một nhóm chúng tôi đi phố chơi cho biết, nhìn chúng tôi ăn bận mỏng manh lang thang ngoài đường phố dưới cái lạnh run người (đối với chúng tôi lúc bấy giờ) của mùa thu, anh thông dịch viên cười và diễu rằng :'' Người Đức họ nhìn thấy các anh chắc họ tưởng những người từ bắc cực xuống ''.

Ngoài túi hành trang nhỏ bé đó mỗi người chúng tôi còn xách trên tay một túi đựng hồ sơ thật lớn của cao ủy tị nạn. Trông đoàn người chúng tôi lôi thôi, lếch thếch và nhớn nhác chắc hẳn những người tây phương buồn cười lắm. Nhưng thời gian đó có lẽ họ nhìn chúng tôi với con mắt thương cảm hơn là lạnh lùng khinh bỉ. Tuy vậy, bây giờ nhớ lại chính tôi cũng cảm thấy mắc cở không ít. Đoàn tị nạn chúng tôi vào tới phi trường thì được chia ra làm nhiều nhóm, mỗi nhóm về một tiểu bang theo sự phân phối của chính phủ Đức.

Chúng tôi - những người thân nhau nhưng không được về cùng tiểu bang - một lần nữa lại bùi ngùi chia tay. Suốt cuộc hành trình tìm tự do, cho tới lúc này chúng tôi vẫn chưa tránh được cảnh chia ly. Cuộc chia ly não nùng và buồn thảm nhất là cuộc chia ly đầu tiên sau một quyết định liều lĩnh cho một cuộc ra đi đầy mạo hiểm. Cuộc chia ly mà người ra đi cũng như người ở lại trái tim đều bị vỡ nát trong tức tưởi nghẹn ngào. Những tiếng nấc nghẹn ngào phải kìm giữ cho khỏi thành tiếng trong đêm vắng. Những giòng lệ không thể ngăn cũng chảy dài trong bóng tối âm u như bóng đêm của cuộc đời không ánh sáng.

Chia tay trong cảnh lệ sầu
Người đi kẻ ở ai rầu hơn ai.


Người ra đi như những chiến sĩ Kinh Kha thuở xưa. Kẻ ở lại chẳng khác nào những thiếu phụ trung trinh một lòng chờ đợi. Nhưng những chiến sĩ Kinh Kha và những thiếu phụ thuở xưa khi chia tay còn có trong lòng niềm hy vọng có ngày phu quân sẽ trở về sau khi tàn chiến cuộc. Những người chiến sĩ Kinh Kha thời nay ra đi với hai bàn tay trắng, không mang theo vũ khí, vì không phải chiến đấu với kẻ thù mà chiến đấu với định mệnh. Và nếu có thoát được lưỡi hái của tử thần ngoài biển cả mênh mông cũng chưa chắc có hy vọng được hội ngộ cùng cố nhân. Bởi vì '' khi bước chân lên tàu là ngàn năm ta chia phôi. . . ''.

Đó là nỗi ray rứt và đau lòng nhất cho cả người đi lẫn kẻ chờ. Rồi tới trại tị nạn, người gặp người, quen nhau và thân nhau. Nhưng mỗi người sẽ được tới một đích khác nhau. Do đó cứ mỗi lần có đợt chuyển trại hay có đợt đi định cư lại có cuộc chia tay. Và cứ thế cuộc chia tay của chúng tôi cứ diễn ra mãi mãi cho đến ngày hôm nay.

Khoảng 11 giờ trưa, các nhóm lần lượt rời khỏi phi trường Frankfurt. Nhóm chúng tôi còn lại khoảng 50 người chờ chuyến bay về Stuttgart, tiểu bang Baden-Wttemberg. Theo lịch trình, 13 giờ chúng tôi có chuyến bay về Stuttgart. Chúng tôi còn phải chờ thêm mấy tiếng đồng hồ nữa. Thời gian chờ đợi thật quá dài. Chúng tôi lại chẳng biết và chẳng dám đi đâu, chỉ quanh quẩn trong phạm vi phòng đợi. Chúng tôi ngồi tán gẫu hoặc ngó người qua kẻ lại cho quên thời giờ. Ngồi lâu cũng chán tôi lặng lẽ bước ra cửa kính nhìn ngắm cảnh vật và các sinh hoạt bên ngoài.

Từ lúc xuống máy bay tới bây giờ ngoài trời vẫn âm u, bức màn sương vẫn phủ kín bầu trời, chưa có một tia nắng xuyên qua màn sương. Những hàng cây trụi lá như đã chết khô từ bao giờ. Nếu không nhìn thấy cảnh sinh hoạt nhộn nhịp bên ngoài của phi trường tôi cứ tưởng mình đang lạc trong một hành tinh nào đó không có sự sống. Trước đây tôi đã từng nghe người ta diễn tả về mùa thu, như : mùa thu chết, mùa thu trong mưa ... dù nghe như vậy tôi cũng không thể tưởng tượng được như những gì tôi đang thấy trước mắt.

Tôi có cảm giác thất vọng, không ngờ nơi tôi đến và sẽ là quê hương thứ hai của tôi ngay từ ngày đầu, ngay cả giây phút đầu đã không cho tôi một ấn tượng tốt mà một ấn tượng thật buồn thảm. Người ta bảo '' người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ''. Nhưng ở đây tôi phải nói ngược lại là '' cảnh buồn người có vui đâu bao giờ ''. Nhìn cảnh vật và bầu trời bên ngoài như một thế giới chết tôi lại nhớ đến quê hương . Quê hương tôi chẳng bao giờ có cảnh tượng buồn nát ruột thế này.

Trưa hôm đó chúng tôi lại được phát một túi đồ ăn như trên máy bay chúng tôi đã ăn. Chúng tôi cảm thấy mệt hơn là đói nên chẳng mấy ai quan tâm đến ăn uống, chỉ mong sớm về tới nơi nghỉ ngơi cho thoải mái. 13 giờ, chúng tôi được hướng dẫn lên máy bay về Stuttgart. Máy bay chạy ra phi đạo nhưng không cất cánh mà lại đứng yên. Một hồi lâu phi cơ chạy trở lại vị trí cũ và chúng tôi được thông báo phi cơ bị trục trặc kỹ thuật không cất cánh được. Buồn ! Chúng tôi lại phải trở về phòng đợi chờ chuyến bay kế tiếp.

Lúc này mọi người uể oải và buồn chẳng muốn nói chuyện gì nữa. Khoảng 15 giờ chiều chúng tôi có chuyến bay và lần này không gặp trở ngại gì. Tới phi trường Stuttgart ngoài trời còn thê thảm hơn ở Frankfurt. Màn sương có vẻ dầy đặc hơn và ảm đạm hơn. Ở đây chúng tôi không được đi bằng cầu thang vô trong nhà mà phải đi bằng xe buýt. Vừa bước ra cửa phi cơ khí lạnh bên ngoài bất thần ập vào người làm tôi co dúm lại, lật đật chạy vội lên xe. Lúc này tôi mới cảm được cái lạnh thật thấm thía, vì từ sáng tới giờ chưa được bước ra ngoài. Nhưng đó mới chỉ là cái lạnh của mùa thu. Tôi nghĩ ngay rồi đây không biết mình có chịu nổi mùa đông không.

Trước khi đi định cư tôi đã được nghe nói khí hậu ở Đức rất lạnh và những người đau bao tử không thích hợp ở xứ lạnh. Điều này làm tôi rất lo ngại vì tôi cũng mắc bệnh đau bao tử. Nhưng tôi không có lựa chọn nào khác. Tại phi trường Stuttgart chúng tôi lại phải ngồi chờ nữa. vì xe buýt của trại đi đón chuyến trước không được đã trở về. Cả tiếng đồng hồ sau xe mới lại đến đón chúng tôi. Mới hơn 5 giờ chiều mà trời đã tối mịt, tôi có cảm tưởng đã 8 hoặc 9 giờ tối rồi.

Trên đường từ phi trường về trại tạm cư chúng tôi không còn nhìn được cảnh vật như thế nào. Về tới trại khoảng 18 giờ, chúng tôi ai nấy đều mệt lả vì cuộc hành trình quá dài cộng thêm mấy đêm chờ tại Manila đã không ngủ được vì giặc muỗi hoành hành. Ông thị trưởng thành phố và ông trưởng trại đến chào đón chúng tôi rất lịch thiệp. Biết chúng tôi đã mệt khờ nên họ cũng chỉ phát biểu qua loa rồi cho chúng tôi ăn uống nghỉ ngơi. Bữa ăn đầu tiên người Đức đã chuẩn bị cho chúng tôi không thịnh soạn lắm, nhưng chúng tôi ai nấy cảm thấy rất ngon vì lúc này tinh thần chúng tôi đã thoải mái và đã hơn một ngày chúng tôi mới được ăn đồ nóng.

Sau bữa ăn thanh đạm mọi người trở nên tỉnh táo và khoan khoái. Chúng tôi được chia phòng để nghỉ, mỗi phòng từ 2 đến 4 người. Trại tạm cư này trước đây là một bệnh viện, nhà đã khá cũ, tường vôi có lẽ đã từ lâu không được sơn quét đã ngả màu vàng nhạt. Giường của chúng tôi nằm cũng là giường của bệnh viện, khăn trải giường cũng như các bọc mền, gối đều trắng tinh sạch sẽ. Một ý nghĩ ngộ nghĩnh thoáng hiện trong đầu tôi : chúng tôi vô tình trở thành những bệnh nhân không bệnh.

Đêm đã khuya và dù sự mệt mỏi chưa hẳn đã hết nhưng chúng tôi vẫn nhốn nháo qua lại từ phòng này tới phòng khác bàn luận và trao đổi về mọi thứ mà chúng tôi cảm thấy mới lạ. Cuối cùng thì chẳng ai còn khả năng để thức trắng thêm một đêm nữa. Trời khuya dần và những tiếng chân đi lại, những lời bàn tán cũng từ từ trả lại sự yên tĩnh cho màn đêm. Tôi cũng về phòng và khi đặt mình xuống giường tôi có một cảm giác rất lạ, một cảm giác trống trải, hình như trong không gian tĩnh mịch này thiếu một cái gì đó. Phải rồi, tôi đang nằm trên một chiếc giường trơ trọi không có mùng vây quanh. Nhìn sang những giường bên cạnh, tất cả đều giống nhau, giường nào cũng chỉ phủ một màu trắng. Tôi có cảm giác thật bâng khuâng, suy nghĩ và tự hỏi : ở đây không có mùng à, bộ ở đây không có muỗi sao ?

Nằm miên man một lúc lâu tôi có ngay được câu trả lời. Ở đây thực sự không có muỗi. Vì nếu có thì giờ này chúng tôi không thể nằm yên được. Khác hẳn một ngày trước khi chúng tôi còn phải nằm chờ tại Manila, mặc dù có mùng chúng tôi vẫn phải chiến đấu thật cam go với giặc muỗi nhiều không thể tưởng tượng. Nằm trong mùng chỉ cần sơ ý hoặc thiếp đi mà để tay ở cạnh mùng là có hằng trăm lính muỗi bu quanh dành nhau tí huyết của kẻ thù : người.

Bao nhiêu năm nằm mộng trong hàng rào lưới vải bây giờ đột nhiên nằm phơi mình giữa thanh thiên bạch nhật thành thử cái cảm giác lạ lùng trống trải cứ mãi lởn vởn trong đầu tôi cho tới lúc chỉ còn nghe những tiếng thở đều đặn từ các giường xung quanh và rồi tôi cũng từ từ thiếp dần vào giấc ngủ bình yên.

(Kỷ niệm 20 năm ngày đặt chân tới Đức)
Neuss, một chiều thu 2001

Cù Lần

NGÀY ÐÓ CHƯA QUÊN