Một Vòng Kỷ Niệm
Chương XV
Bốn tuần lễ trôi qua như một cơn gió thoảng, còn không đầy một tuần nữa chúng tôi phải trở về Đức. Ngày hội ngộ lòng ai cũng nở rộ một niềm vui. Nói đến ra đi là nói đến chia ly, mà chia ly thì cả người đi lẫn người ở lại đều không tránh được những ray rứt trong lòng. Riêng tôi, ra đi lần này tôi mang trong lòng một kỷ niệm có lẽ không bao giờ có thể phai nhạt trong lòng tôi. Kỷ niệm này khi khởi sự viết tôi không có ý viết ra, vì đây là một kỷ niệm hoàn toàn có tính cách riêng tư. Nhưng viết tới đây như có một động lực nào đó thôi thúc tôi ghi lại đây kỷ niệm đáng nhớ này.
Buổi chiều trước khi đại gia đình tôi dùng bữa cơm họp mặt cuối cùng, bố mẹ tôi đã vào phòng khi tôi đang thu dọn vài vật dụng cá nhân. Ngoài những điều trao đổi về phần đất bố mẹ tôi dành cho chúng tôi, những lời tâm huyết của bố tôi đã làm tôi không cầm nổi nước mắt và nghẹn cứng cổ họng. Lần đầu tiên kể từ khi tôi khôn lớn, tôi đã khóc một cách mùi mẫn như một đứa trẻ nũng nịu vòi quà trước mặt bố mẹ. Nhưng tôi không khóc để vòi quà mà khóc vì tấm lòng của một người cha. "Con đừng bận tâm lo lắng cho bố mẹ, bố mẹ hiện giờ vẫn còn có thể làm việc được, hơn nữa ở nhà đã có các em. Con phải để tâm lo cho gia đình, lo cho các cháu ăn học đàng hoàng. Ngày xưa bố không được đi học, bây giờ bố cảm thấy bị thiệt thòi và tủi phận lắm. . . "
Đó là lời tâm huyết của bố tôi mà cả đời chắc chắn tôi sẽ không quên. Nói xong bố tôi khóc nghẹn ngào, thử hỏi làm sao tôi có thể ngăn được nước mắt. Và dĩ nhiên cả mẹ tôi cũng nhắn nhủ vừa bằng lời vừa bằng hai giòng lệ tuôn rơi. Thế là cả ba chúng tôi đều sụt sịt nghẹn ngào như trong một tuồng cải lương đầy nước mắt về những sự éo le của cuộc đời.
Bề ngoài bố tôi là một con người cục mịch, cứng cỏi hay cau có khiến cả nhà nhiều khi rất khó chịu kể cả tôi. Phần nhiều những người bề ngoài cứng cỏi, ương ngạnh nhưng trong lòng lại mềm nhũn và tình cảm dạt dào hơn ai hết. Tình cảm là một sức mạnh vô hình nhưng thật mãnh liệt. Điều này tôi đã cảm nhận được nơi bố tôi.
Ngày xưa khi tôi ra đi bố tôi thực sự không đồng ý, nhưng hoàn cảnh của tôi lúc đó bất đắc dĩ bố tôi đành im lặng. Sau này tôi ngỏ ý cho mấy em tôi ra đi và mấy em tôi cũng muốn ra đi nhưng bố tôi buồn rầu nói :" Thôi đừng đi đâu hết, đi đứa nào là mất đứa đó." Lần đầu tiên trở về cách đây năm năm, khi chia tay tại phi trường Tân Sơn Nhất bố tôi cũng đã là người khóc ngọt ngào nhất.
Chính tôi cũng là người có những căn tính lạ lùng do sự di truyền của bố tôi. Vợ tôi cũng vẫn phàn nàn và bực mình với tôi không ít vì nhiều khi nói chuyện với vợ còn gắt hơn cả mắm tôm. Tuy nhiên, bề ngoài gắt gỏng nhưng thực sự trong lòng vẫn trắng trơn. Có lẽ đó là một cố tật, một khuyết điểm lớn của bố con tôi.
Những hạt mưa ngậm ngùi đưa tiễn chúng tôi lên thành phố để chuẩn bị giã từ quê hương, trả lại cho gia đình tôi, cho đám em đám cháu chúng tôi bầu khí và những sinh hoạt đều đặn thường ngày. Trên chuyến xe đêm hôm đó có cả cha sở họ đạo Láng Sen Nguyễn Văn Hương cùng đi theo. Chúng tôi hẹn nhau cùng đi để hôm sau tham dự cuộc họp lớp được tổ chức tại nhà Vũ Hoàng Anh ở Hố Nai.
Dân chúng Việt Nam bây giờ thích đi xe ban đêm. Theo tôi, đi xe ban đêm cũng có nhiều cái lợi, ban ngày cứ việc làm công việc thoải mái, ban tối ra đón xe lên tới thành phố khoảng 2 hoặc 3 giờ sáng, chỉ cần nghỉ ngơi vài tiếng có thể dậy đi lo công việc cần thiết, như thế không bị mất thời giờ nhiều vô ích. Đi ban đêm lại mát mẻ ít ồn ào.
Sáng sớm hôm sau em tôi chở tôi tới nhà Nguyễn Văn Thành ở Ông Tạ để cùng đi Hố Nai với một số anh em. Cha Hương hồi đêm về nghỉ ở nhà Thành. Khi tôi tới chỉ có cha Hương và cha Thanh (cũng mới lên hồi khuya) ở đó. Một số anh em khác : Tuyến, Tuấn, Tinh, Tiến . . . từ từ kéo đến. Chúng tôi làm một bụng bánh cuốn tại nhà Thành rồi mới lên đường.
Tới nhà Vũ Hoàng Anh, tôi khá ngạc nhiên và mừng gặp lại cha Hoàng Minh Đường và cha Đinh Nam Hưng. Cha Đường vẫn cao và gầy như xưa nhưng hiền hoà và vui vẻ hơn hồi còn làm linh hướng trong chủng viện. Cha Nam Hưng trông chưa hẳn là lão nhưng tóc đã trắng hầu hết. Ngày xưa "các chú" trong chủng viện thấy bóng các cha là tìm cách "lủi" chỗ này chỗ kia hoặc khúm núm sợ sệt như con nít sợ ông kẹ. Thế mà bây giờ thấy các ngài hiền hoà dễ thương làm sao.
Chúng tôi ngồi nói chuyện một lúc thì được mời lên lầu để khai mạc buổi họp mặt. Mới tới tôi nghĩ là còn nhiều anh em chưa đến, vì tôi chỉ gặp vài anh em đi lại lảng vảng hoặc ngồi nói chuyện với các cha. Nhưng lên lầu tôi mới biết là đa số anh em đã đến đầy đủ nhưng ở trên này tập hát tôi không hề biết. Kể từ khi "rã đám" đây là lần thứ hai tôi có dịp gặp lại một số đông anh em cùng lớp.
Lần trước vào dịp lễ mở tay của cha Đinh Công Oánh năm 1999 và lần này dịp anh em họp mặt lớp tại miền đông. Ngoài một số anh em tôi đã gặp lại dịp lễ mở tay của cha Oánh, lần này tôi được gặp lại một số anh em nữa đa số ở miền đông. Có những khuôn mặt vừa gặp là thấy ngay tên tuổi hiện trên trán, nhưng có những khuôn mặt nhìn thật kỹ và cố moi trong bộ nhớ để tìm tên tuổi nhưng có lẽ tên tuổi của họ trong bộ nhớ theo thời gian đã bị virus nuốt sạch, đành phải chịu thua. Tới khi được giới thiệu lại tên tuổi tôi mới hình dung lại được những khuôn mặt của họ một thời xa xưa.
Điều đáng nói ở đây dù thời gian có qua đi nhưng tình nghĩa anh em vẫn gắn bó và rất cởi mở. Rất tiếc tôi không có đủ thời giờ để có thể trao đổi tâm tình với từng anh em. Tại Việt Nam thời giờ tương đối không bị ràng buộc lắm nhưng xem ra người ta lúc nào cũng có vẻ vội vã hơn cả bên Âu Mỹ : ăn vội, uống vội, đi vội, ngủ vội . . . tôi cũng đành phải "đáo giang tùy khúc" vậy.
Phần đầu buổi họp mặt là nghi thức làm phép tượng (thủ cấp) thánh quan thầy Maximilien Kolbe mới được tạc bằng đồng do cha Nam Hưng đảm trách. Tiếp theo là phần giới thiệu và tường trình những hoạt động của năm trước do ông trùm Thư với tư cách trưởng lớp thủ diễn. Sau phần thứ nhất mọi người kéo sang nhà thờ Thánh Tâm dự lễ trong bầu khí đơn sơ nhưng thật ấm cúng.
Thánh lễ đồng tế ngoài hai cha giáo Đường và cha Nam Hưng, các cha trong lớp có : cha Oánh, cha Âu Bình, cha Hương, cha Thanh, cha Ngô Trung và cha Chánh gốc Xuân Lộc. Bầu khí thánh lễ và những tiếng hát ngọt ngào của anh em đã đưa tôi về với "những ngày xưa thân ái" tại Châu Đốc, Long Xuyên và Rạch Giá. Nhưng quang cảnh ngày nay khác "những ngày xưa thân ái" ở chỗ bên cạnh những anh hùng "Ta Ru" còn có cả một đạo binh của nữ thần E-Và cùng cất cao tiếng hát chúc tụng Thiên Chúa và những "thằng cu, cái hĩm" đủ cỡ vây quanh.
Theo truyền thống từ lâu đời vẫn có của lớp, thánh lễ vừa xong mọi người "sát lại gần nhau" chụp một tấm hình làm kiểng. Sau thánh lễ mọi người lại kéo nhau về địa điểm cũ để đánh chén. Vì gia chủ (Vũ Hoàng Anh) là chuyên viên đi phục vụ các tiệc tùng, đình đám nên bữa chén hôm đó quả thực "có chất lượng cao" (nói theo kiểu Việt Nam hiện giờ), nghề của chàng mờ lị. Đánh chén no say xong, tất cả lại ngồi vào bàn hội nghị để thảo luận, để chia sẻ.
Một sự kiện khá quan trọng và mọi người đều cảm thấy vui, đó là trường hợp của vợ chồng Chánh Hương và Nguyễn Văn Thành. Không biết ngày xưa ông tiên bà tiên nào se sợi tơ hồng cho họ và tay chân vụng về thế nào mà gần đây mấy sợi tơ bị rối loạn cào cào. Mấy thầy cả trong lớp đã phải mất một thời gian kiên nhẫn lần mò để gỡ từng nút, rút từng sợi, cuối cùng những sự rối rắm đã được giải quyết êm đẹp. Ngày hôm đó mọi người đã phấn khởi và cùng mừng cho đương sự.
Một điều vui khác nữa là mọi người cùng chúc mừng hai cặp đã chung thân (không biết có bị khổ sai không) với nhau được hai mươi nhăm năm. Đó là vợ chồng Đào Quang Trung và Lại Văn Chử. Nhưng tiếc là cả hai phu nhân hôm đó đều không có mặt. Những điều chia sẻ tiếp đó cũng chỉ xoay quanh vấn đề đời sống gia đình.
Phần kết thúc, Phùng Văn Ngọc đã mạnh dạn đứng lên lãnh trách nhiệm tổ chức họp mặt năm tới tại nhà anh. Mọi người vui vẻ tán thành. Buổi họp mặt qua đi mau lẹ, khoảng 3 giờ chiều mọi người chia tay, để rồi ngày lại ngày mỗi người đều bù đầu vào những công việc của một kiếp tằm phải nhả tơ. Tôi có một cảm giác thật vui vì lần đầu tiên có cơ hội tham dự buổi họp lớp và có cơ duyên gặp lại đông đảo bạn bè, để nhận diện lại những khuôn mặt một thời đã chạm trán hàng ngày.
Về tới Sài Gòn thì trời đổ mưa tuy không lớn lắm và lúc đó là giờ tan sở, đường phố như một cuộc biểu tình xuống đường, xe này nối đít xe kia nhích đi từng tí. Tôi về tới nhà thi trời cũng vừa tối.