Một Vòng Kỷ Niệm
Chương IX
Giải quyết xong những vấn đề cá nhân chúng tôi lại lên xe tiếp tục hành trình. Thế là chúng tôi ở Huế chỉ chừng hơn 4 tiếng đồng hồ. Thời gian thật quá ngắn ngủi để có thể thăm hết vòng thành nội, để qua chợ Đông Ba ăn tô "bún bò Huế" hay nếm thử hương vị bánh khoái . . . sau đó vòng qua ngó xem cửa Thượng Tứ thế nào. Cũng chẳng đủ thời gian để đi bộ qua cầu Tràng Tiền đếm xem có đủ 12 nhịp hay không. Còn trường Đồng Khánh nữa, tôi muốn biết các nữ sinh của đất thần kinh bận áo dài đội nón bài thơ xinh đẹp cỡ nào khiến các học trò trong Quảng ra bị chôn chân tại chỗ không đi được.
Tôi muốn thăm, muốn biết rất nhiều nhưng thời gian là một ông chủ nghiêm khắc chẳng bao giờ thông cảm cho kẻ làm tôi. Ra Hà Nội tôi đã đành bỏ dở tô phở Hà Nội, bây giờ tại kinh đô tôi lại phải đành bỏ dở tô bún bò Huế. Thật đáng tiếc nhưng đành phải ôm ấp "giấc mơ chưa tròn" đem về dùi mài kinh sử chờ cơ hội sẽ ra kinh đô lần nữa. Nhưng "biết đến thuở nào ?" .
Một lần nữa xe chúng tôi lại ì ạch leo lên đèo Hải Vân. Lần này chiếc xe có vẻ khổ sở và mệt nhọc hơn lúc đi vì phải gánh thêm hơn mười khối thịt nữa. Thỉnh thoảng có đoạn đường đang sửa, xe lên xe xuống tránh nhau khá vất vả. Trạm dừng chân kế tiếp của chúng tôi là Hội An. Nằm về phía nam Đà Nẵng, Hội An là một thành phố cổ mà đa số những người tây phương tới Việt Nam đều ghé qua. Người tây phương rất quí trọng và rất thích tìm hiểu về văn hoá cổ truyền của các dân tộc.
Khoảng 5 giờ chiều chúng tôi về tới khách sạn. Gia đình tôi 5 người nằm chung một phòng đôi. Giường tương đối rộng cứ một giường hai người, một giường ba người. Chúng tôi chủ trương nằm chung như vậy cho "ấm cật". Khách sạn ở đây tương đối mới và sạch sẽ, có máy lạnh và cả quạt máy nữa. Nhưng máy lạnh mỗi lần mở thì nó gầm lên như máy bay chuẩn bị cất cánh. Ban đêm chúng tôi thà chỉ mở máy quạt mặc dù không mát lắm còn hơn mở máy lạnh mà mất đi cơ hội dệt mộng .
Theo chương trình, sau khi ổn định phòng ốc và tắm rửa thoải mái xong chúng tôi sẽ ra tham quan phố cổ. Nhưng ông trời có vẻ hờn ghen với chúng tôi, muốn cản trở không cho chúng tôi "riễu phố" nên đổ mưa dầm dề. Sau cùng thấy mưa không nặng hạt lắm chúng tôi quyết định đội mưa mà đi, nếu không chẳng còn cơ hội. Thấy lũ chúng tôi lì lợm ông trời không nỡ "đì" tiếp nên từ từ cất nước đi để dành.
Ra tới phố thì trời đã tối, mưa đã dứt, mấy dãy phố chúng tôi đi qua các tiệm vẫn mở cửa nhưng rất yên tịnh. Đặc biệt các tiệm bán tranh vẽ rất nhiều. Nhà cửa đa số đã cũ, một vài căn nhà hoàn toàn bằng gỗ tôi nghĩ là gỗ quí, tuy nhiên trời tối tôi không thể nhận ra được những nét đẹp cổ kính của nó. Chúng tôi thả bộ tà tà ra phía bờ sông. Một nhà hàng nổi bên bờ sông khá lớn, đèn màu rực rỡ và thực khách đa số là tây phương. Bên kia sông cũng có một nhà hàng lớn, đèn màu cũng sáng choang, thực khách khá đông và tuy không rõ lắm tôi vẫn có thể nhận ra họ cũng toàn là khách tây phương.
Tôi không có hứng thú lắm về các hàng hoá bày bán trong các cửa tiệm, chỉ có phe E-Và thì vào quán nọ ghé quán kia, xem thì nhiều mà mua chẳng bao nhiêu. Tôi chỉ đi vòng vòng quan sát cho biết như một cuộc đi dạo. Đi được vài dãy phố thì mấy đứa con tôi và con anh chị Bình bắt đầu thấy chán và chính tôi cũng cảm thấy chẳng có gì hấp dẫn. Chúng tôi quyết định trả lại sự yên tịnh cho phố cổ, dắt díu nhau trở về để còn giải quyết vấn đề bao tử vì lúc đó cũng đã khuya.
Bữa cơm tối hôm đó tại phố cổ Hội An là bữa cơm "nhớ đời" trong suốt chuyến rong chơi của chúng tôi. Một trận lôi đình đã xẩy ra nhưng may hai bên chỉ sử dụng võ miệng chứ chưa ác liệt đến nỗi phải dùng khí giới nặng. Kẻ tham chiến là phái đoàn chúng tôi và mấy nữ chủ quán (hai chị em). Trước khi vào thăm phố cổ mấy "chị nuôi " của chúng tôi (chị Bình và mấy cô em) đã đăt quán này chuẩn bị bữa tối cho chúng tôi với sự thoả thuận mỗi phần cơm thịt bò 10.000 đ/VN .
Thế nhưng khi dọn cơm lên cho chúng tôi thì chỉ có một đĩa xào với vài cọng rau, bới mãi không tìm ra miếng thịt và một tô canh cũng chỉ vài miếng cải lội bì bõm. Cơm thì nguội ngắt như vừa ướp lạnh. Tất cả chúng tôi đều thất vọng và bực mình, nhưng đa số chúng tôi không có khiếu tranh luận nên mọi chuyện đều bán cái cho mấy "chị nuôi" . Khi mấy chị nuôi chúng tôi khiếu nại thì được trả lời là : tối rồi không mua được thịt bò. Một câu trả lời thật đơn giản và trắng trợn. Đây đúng là một sự lừa đảo.
Ban đầu mấy "chị nuôi" còn nhỏ nhẹ lịch thiệp nhưng mấy nữ chủ quán không biết điều lại lên mặt làm dữ tưởng đâu bắt chúng tôi chấp nhận sự đã rồi. Nhưng mấy "chị nuôi" chúng tôi đâu dễ để ai bắt nạt. Do đó cuộc khẩu chiến bùng nổ. Mấy nữ chủ quán không biết có phải gốc Hà Đông không mà mụ nào mụ nấy như chằng lửa. Cuối cùng tuy hậm hực nhưng chúng tôi cố gắng thanh toán mấy thứ "bất chiến tự nhiên thành" đó để bao tử khỏi biểu tình.
Sáng hôm sau khoảng 8 giờ 30 chúng tôi lại lên đường để tới địa điểm kế tiếp là Nha Trang. Đường từ Hội An về Nha Trang rất tồi tệ, nhiều đoạn đang được làm mới hoặc sửa chữa lại mà ở Việt Nam bây giờ người ta gọi là "nâng cấp". Rất nhiều cầu cống cũng đang được làm mới. Vì thế xe của chúng tôi chạy khá vất vả, nhất là những đoạn đường hẹp và lồi lõm, tệ nhất là những chỗ đang làm cầu xe cứ cọc cà cọc cạch lăn từng chiếc bánh qua những ổ gà chằng chịt. Đã vậy dù trời nóng chúng tôi vẫn không dám mở cửa sổ vì bụi bay mù mịt.
Gần trưa chúng tôi cũng bò về được tới Bình Định, trời nóng và được xe "nựng" nhiều quá ai nấy đều mệt mỏi. Chúng tôi tạm nghỉ và ăn trưa tại một quán có tên là "Quán Cây Đa" . Vì ngay trước cửa quán có cây đa rất lớn, cành lá xum xuê, xanh mướt và có lẽ nó cũng đã khá tuổi. Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy cây đa, tôi liên tưởng tới những "cây đa đầu làng" mà từ trước tới giờ tôi chỉ được thấy qua các sách vở nói về làng mạc cổ xưa với con đê, lũy tre xanh . . . hoặc câu ca dao :" Con vua thì lại làm vua, con bác sãi chùa thì quét lá đa".
Có lẽ các chùa chiền ngày xưa có thói quen hoặc sở thích trồng đa trong sân chùa. Mục đích chính để làm gì thì tôi chịu thua chứ những cây đa đã trở thành cổ thụ thì bóng mát không thể chê được. Nhưng khi cây đa cho những bóng mát rợp trời thì các vị sãi chùa cứ quét lá đa mệt nghỉ, có khi quét đến đời con đời cháu vẫn chưa hết lá.
Tại đây chúng tôi gặp may mắn là không phải chờ đợi đặt đồ ăn, lý do có một phái đoàn nào đó đã đặt trước nhưng chưa tới, chủ quán đề nghị nhường cho chúng tôi ăn trước với những món họ đã chuẩn bị rồi sẽ làm cho phái đoàn kia sau. Những món ăn khá hấp dẫn và giá cũng phải chăng, chúng tôi chấp thuận ngay. Thế là sau khi rửa mặt mũi mát mẻ chúng tôi nhào vô đánh chén liền. Bữa cơm ở đây cũng là bữa cơm "nhớ đời" , nhưng trái ngược hẳn bữa cơm tại phố cổ Hội An tối hôm trước.
Bữa cơm ở Hội An tệ bao nhiêu thì bữa cơm ở đây lại thịnh soạn bấy nhiêu. Cũng 10.000 đ/VN một phần mà được tới 5-6 món và món nào cũng "số dách" , theo danh từ tại Việt Nam thì bảo là những món ăn "có chất lượng cao" chứng tỏ đầu bếp ở đây thuộc loại chuyên nghiệp. Hôm nay mặt mày ai nấy tươi sáng như trăng rằm không còn nhăn nhó như khỉ ăn gừng tối hôm trước nữa, vừa ăn vừa khen nấy khen để khiến mấy cô hầu bàn cũng mát ruột cười tươi như hoa. Không những cơm ngon canh ngọt mà còn có cả tráng miệng nữa, thật sang thế đấy. Bữa cơm như thế cũng đáng được ghi vào sổ đời lắm chứ.
Trời càng lúc càng nắng gắt và oi bức, xe vẫn từ từ nuốt từng đoạn đường, chỗ nào đường còn khá thì có thể lăn bánh nhanh hơn, chỗ nào đường "xuống cấp" thì xe cứ ọc ạch nhảy tưng tưng từng bước. Một số trong xe có vẻ "ăn no ngủ kỹ" nhưng miệng thì há hốc như thể cá trong chậu đang cần dưỡng khí. Một số khác kể cả tôi không ru được giấc ngủ thì ngồi ngáp ruồi cho "qua ngày đoạn tháng" .
Mấy đài phát thanh xem ra bị yếu bình mà không có cơ hội "sạc" thành thử hoạt động rất yếu ớt. Mấy ông Tây uống nước không thấy đã đem đổ cả lên đầu lên cổ như người ta tưới cây. Khoảng 4 giờ chiều xe dừng lại bên đường để mọi người tìm nơi giải tỏa, giải khát và giải lao. Tôi không còn nhớ chỗ đó là đâu, nhưng nhìn qua nếp sinh hoạt, nhà cửa và quang cảnh cũng đủ biết người ta rất nghèo. Quán nước nhỏ bên đường hôm đó coi như được trúng số độc đắc vì tôi nghĩ từ khi mở quán đến giờ có lẽ chưa bao giờ họ có được một "đống" khách béo bở như vậy. Hai người bán hàng chạy bở hơi tai vẫn không kịp để phục vụ đám khách đang chết khát trong sa mạc khiến mấy chị nuôi của chúng tôi phải nhào vô phục vụ lấy như người nhà.
Mặc dù trời nóng tôi vẫn thèm một ly cà phê, tôi thả bộ một mình đi tìm quán cà phê. Chỗ này không phải tỉnh cũng không phải thị trấn nên tìm được một quán cà phê đàng hoàng chắc là khó. Đi được khoảng 100 mét tôi ghé vào một "quán lá". Gọi là quán thì có vẻ hơi phạm từ nhưng thôi tạm gọi như thế cho oai. Cả quán chỉ có hai cái bàn bằng nhựa thấp lè tè đủ cho hai người ngồi hai bên, mấy cái ghế nhỏ như để cho con nít ngồi nằm vương vãi mỗi nơi mỗi cái chứng tỏ khách chẳng hề vãng lai.
Tôi bước vào tới cửa ngó vào nhà chẳng thấy ai, lên tiếng gọi thì một đứa bé từ sau nhà chạy ra. Tôi nói cho một ly cà phê thằng bé quay ra nhà sau gọi bố ầm ỹ. Một lúc sau ông chủ quán (hình như đang bổ củi sau nhà) ở trần bận quần xà lỏn lù đù bước ra, chậm rãi xách ấm nước bỏ lên bếp (củi) nấu. Thú thực lúc đó cơn ghiền cà phê của tôi tự dưng biến mất, tôi định bỏ đi nhưng nghĩ lại thấy kỳ và tội nghiệp quá.
Bỏ đi không đành tôi kéo chiếc ghế có vẻ sạch nhất ngồi chờ. Âu đây cũng là cơ hội để rèn luyện "nhân đức nhẫn nại". Vừa quan sát ông chủ quán nấu nước, pha cà phê tôi vừa miên man suy nghĩ và tự hỏi : như thế này mà họ sống được ư ? Tôi không tin là họ sống nhờ vào quán cà phê này. Khi cà phê được đưa ra tôi nghĩ uống cà phê ở đây chắc không cần bỏ đường vì mỗi lần xe chạy ngang qua bụi đường bay mù mịt, toả rộng khắp nơi. Tôi uống ly cà phê một cách máy móc không cảm thấy hương vị gì cả.
Trở về quán nước, vợ tôi hỏi :
- Anh đi đâu về vậy ?
Tôi cười :
- Đi uống cà phê.
- Uống cà phê mãi ở đâu mà lâu vậy ?
Thì ra tôi uống được ly cà phê chẳng ngon lành gì mà mất nhiều thời giờ như
vậy. Lúc tôi trở về, quán nước vẫn còn bán chạy như tôm tươi. Bây giờ lại
có thêm một vị khách nữa là tôi. Tôi nghĩ nếu không có phái đoàn của chúng
tôi ghé đây chắc gia đình chủ quán chỉ có nước ngồi ngáp ruồi. Để khỏi mất
thời giờ vì đường còn dài, tối hôm đó chúng tôi không ăn cơm trong quán, khi
xe dừng lại đổ dầu chúng tôi tranh thủ đi tìm chỗ giải toả áp lực rồi mua
các thức ăn cầm tay bán ở vệ đường (xôi, bánh mì, trứng cút . . . ) đem lên
xe ăn.
Tối hôm đó là tối vui nhộn và hứng khởi nhất trong cả chuyến du hí. Các đài phát thanh bị nực mỡ sao đó tự dưng hoạt động hăng say trở lại khiến bầu khí trong xe như một buổi văn nghệ hào hứng. Mấy ông tây bà đầm cũng tham gia rất tích cực. Mặc kệ ông hát gà bà hát vịt, chẳng ai hiểu ai nhưng cứ Ta hát một bài, Tây hát một bài trả lễ. Cứ thế cả hai bên lôi đủ mọi bài ra hát bất kể đạo đời, nhạc người lớn, nhạc trẻ con . . . thuộc cũng hát mà không thuộc cũng hát miễn sao có âm thanh vang lên là được.
Chương trình văn nghệ thỉnh thoảng được xen kẽ những câu chuyện bù khú tuy chỉ có đám Mít mình hiểu nhưng rồi cả xe cũng được những tràng cười giòn tan. Khi chương trình văn nghệ hết tiết mục mọi người đều mệt mỏi chỉ mong cho đến nơi. Mấy bác tài xế cứ nói sắp tới rồi nhưng xe cứ chạy mãi chẳng ngừng. Tôi cũng cảm thấy thấm mệt không còn hứng thú quan sát xem mình đang ở đâu, hơn nữa bên ngoài tối đen rất khó nhận diện.