Một Vòng Kỷ Niệm
Chương VII
Khoảng 15 giờ 30 xe chúng tôi chuyển bánh trở về Hà Nội, chấm dứt một ngày "rong chơi cuối trời quên lãng ". Thật vậy, rong chơi đây đó cho quên đi nỗi cơ cực suốt năm dài làm thân trâu ngựa, những tháng ngày nhọc nhằn vất vả, và quên đi những muộn phiền, những lo lắng của một kiếp người lang bạt. Những ngày rong chơi chúng tôi thực sự tìm lại được con người thật tự nhiên của chính mình, con người của vô tư, con người của tâm hồn thanh thản với niềm vui thanh thoát. Một ngày để quên và cũng là ngày để nhớ. Có những điều người ta muốn quên đi thì cũng có những điều người ta muốn ghi nhớ mãi dù điều đó tốt hay xấu.
Ngày hôm nay, cảnh thiên nhiên tuyệt vời của Hạ Long đã làm cho tôi thật say mê. Tôi thực sự thỏa mãn và có ấn tượng tốt về Hạ Long. Trước đây tôi chỉ được nghe, chỉ được thấy một vài hình ảnh về Hạ Long mà trong lòng cảm thấy thèm thuồng, nhưng chưa dám mơ ước. Thế mà bây giờ tôi có cả một đống hình ảnh ngoạn mục đã đi sâu vào tâm trí tôi bằng chính nhãn quan của tôi và cả một khối cảm xúc như những khối nhũ đá của Hạ Long đã lọt vào trái tim tôi. Một ngày thật thú vị, thật đáng ghi nhớ. Tôi đã dành cho ngày này một chỗ thật trang trọng trong ngăn kéo kỷ niệm của đời tôi.
Chúng tôi về tới khách sạn Hà Nội khoảng 18 giờ 30. Hôm nay là thứ bảy, chúng tôi định ra nhà thờ chính toà Hà Nội dự lễ thay cho Chúa nhật, vì hôm sau chúng tôi phải lên đường sớm để "xuôi Nam". Nhưng giờ này đã quá trễ, hơn nữa chúng tôi cũng chưa biết nhà thờ lớn Hà Nội ở chỗ nào. Thế là chúng tôi đành phải "thất hẹn" với Chúa một lần. Tối hôm nay chúng tôi không ăn chung trong khách sạn mà bụng ai nấy "no".
Nghỉ ngơi đôi chút gia đình tôi lại dắt díu nhau ra phố, mục đích đầu tiên là đi tìm nhà thờ chính toà Hà Nội xem như thế nào, thứ đến là dạo phố đêm Hà Nội lần cuối cùng trước khi giã từ đất "ngàn năm văn vật " và mục đích sau cùng dĩ nhiên tìm nơi giải quyết vấn đề bao tử. Theo những con đường quen thuộc chúng tôi trực chỉ ra hướng bờ hồ, nhưng nửa đường theo bản đồ chúng tôi rẽ vào phố Ngô Quyền, phố này tương đối vắng vẻ, đa số là những dãy nhà lớn. Sau đó chúng tôi rẽ vào phố Tràng Tiền. Phố này khá nhộn nhịp, buôn bán sầm uất, thanh niên thiếu nữ đi lại ngập đường.
Trước một vài rạp ciné vì còn đóng cửa người ta chen chúc nhau đứng chờ trước cửa, đa số là lớp trẻ. Các cửa tiệm mở đèn sáng choang. Nhưng hết phố Tràng Tiền qua một vài phố nhỏ khác lại vắng vẻ như chùa Bà Đanh. Qua một vài con đường nhỏ chúng tôi đã tới được nhà thờ Hà Nội. Nhà thờ khá cao lớn nhưng khu khuôn viên nhà thờ không được rộng lắm, chung quanh bị bao vây bởi các dãy phố. Nói chung nhìn khung cảnh nhà thờ không được nổi bật lắm, hay có thể ban tối nhìn cảnh vật không được rõ lắm chăng.
Giờ này có lẽ Chúa đang cô đơn trong nhà tạm vì cửa nhà thờ đã đóng kín. Bên ngoài thật vắng vẻ chỉ có vài đứa trẻ đang chơi banh như có vẻ chỉ để giết thời giờ vì chưa muốn ngủ sớm hơn là vì ham mê thể thao. Chúng tôi thả bộ dọc theo phố Nhà Chung. Con đường này cũng vắng vẻ và nhỏ hẹp. Toà giám mục Hà Nội không biết lớn cỡ nào vì trời tối tôi không nhìn thấy rõ hết, và cũng không biết bên trong sinh hoạt thế nào, từ ngoài nhìn vào tất cả như đang chìm trong giấc ngủ.
Khởi đầu chuyến đi Hà Nội chúng tôi đã có ý định sẽ tá túc tại nhà trọ của toà giám mục Hà Nội chứ không ở khách sạn. Lý do là có người quen đã từng trọ ở đó giới thiệu và đề nghị, vì ở đó được an toàn, thoải mái, giá lại phải chăng. Nhưng khi chúng tôi tới Hà Nội thì xe không được phép vào thành phố như đã nói mà chúng tôi lại chẳng có bản đồ trong tay để đi tìm thành thử chúng tôi đành phải thuê khách sạn. Giả sử xe được phép vào thành phố nhưng lớn như xe của chúng tôi nếu chạy vào đường này chắc chắn gặp khó khăn.
Qua toà giám mục một chút là một nhà dòng với cổng kín tường cao. Mục đích thứ nhất kể như đã đạt được, lúc này bao tử ai nấy bắt đầu lên cơn sốt. Mấy đứa con tôi cứ hối đi tìm quán ăn. Đứa muốn ăn cái này đứa muốn ăn cái kia mà số lượng quán ăn ở Hà Thành quá khiêm nhượng so với Sài Thành. Chúng tôi dắt nhau về phiá bờ hồ Hoàn Kiếm và vào một nhà hàng tương đối thanh lịch ở gần bờ hồ. Mấy đứa con tôi thì ăn món Ý còn vợ chồng tôi dĩ nhiên "ta về ta húp canh ta, dù trong dù đục canh nhà vẫn ngon ". Khách ở đây cũng đủ loại : Tây, Tầu, Mít . . .
Bầu khí khá thơ mộng, có hoà tấu piano và violon, mấy bài nghe cũng khoái con ráy. Khi bao tử đã cảm thấy hài lòng chúng tôi đi dọc theo bờ hồ như mọi lần để về khách sạn. Như vậy chúng tôi có cơ hội nhìn lại Hồ Gươm lần cuối cùng, và như anh lính trẻ trong thời chinh chiến phải từ giã người yêu ra đi mà không dám hẹn ngày về, chúng tôi cũng từ giã Hồ Gươm trong âm thầm không dám hẹn ngày tái ngộ. Nhưng anh lính trẻ thời xưa ra đi còn có người thương nhớ hình bóng và mong mỏi mình trở về. Còn chúng tôi ra đi rồi thì Hồ Gươm cũng vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt" , ai đi mặc ai, ai ở mặc ai. Người này đi kẻ khác tới, mỗi ngày không biết có bao nhiêu người đến rồi đi. Người đến chẳng mừng kẻ đi chẳng tiếc, vậy mà Hồ Gươm vẫn cứ được lòng thiên hạ.
Ba giờ sáng hôm sau chúng tôi đã thức dậy lo xếp đồ đạc, dọn dẹp qua loa để trả phòng. Năm giờ sáng chúng tôi giã từ Hà Nội, qua những dãy phố vẫn còn đang chập chờn ngái ngủ, kể cả chính chúng tôi cũng đang tiếc rẻ những giấc mộng mong manh. Tôi từ giã Hà Nội trong trạng thái bâng khuâng thèm khát như một người đang đói vớ được chén cơm, ăn chưa hết nhưng đành bỏ dở. Đúng vậy, tôi đang đành bỏ dở chén cơm Hà Nội mà mấy ngày nay dẫu cố gắng tranh thủ tôi vẫn không thể nuốt hết được. Ra tới Hà Nội mà đành bỏ dở 36 phố phường, cũng như ra tới Hà Nội mà chưa có cơ hội ăn một tô "phở Hà Nội" chính hiệu con nai vàng là một điều thật thiếu sót. Đáng tiếc chén cơm Hà Nội quá đầy mà thời gian để ăn quả thực quá ít.
Hà Nội lùi dần phía sau lưng, đoạn đường trở về miền nam càng rút ngắn lại. Chúng tôi xa Hà Nội trong niềm tiếc nuối mênh mang, nhưng nỗi nhớ trong lòng chúng tôi chưa sâu đậm lắm bởi vì chúng tôi thực sự chưa biết nhiều về Hà Nội, chưa sống với Hà nội cho đủ để có thể yêu mến Hà Nội cách da diết. Người ta bảo "vô tri bất mộ", thật vậy, chúng tôi "vô tri" Hà Nội thì dĩ nhiên còn "bất mộ" lắm.
Tôi chưa có được cái cảm xúc khi phải rời xa Hà Nội như Anh Bằng, tác giả của bài hát "Nỗi Lòng Người Đi ". Trong những lúc niềm nhớ khôn nguôi bừng dậy trong lòng, ông đã phải thốt lên những lời tình tự như trong tác phẩm của ông :" Tôi xa Hà Nội năm lên 18 khi vừa biết yêu. Bao nhiêu mộng đẹp yêu thương thành khói tan theo mây chiều. Hà Nội ơi ! nào biết ra sao bây giờ, ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa. . ." Còn gì thơ mộng và lãng mạn bằng hình ảnh chiếc áo dài tha thướt đứng tựa một gốc cây nào đó ven hồ chờ đợi người yêu tới.
Hồ Gươm có lẽ là một không gian lý tưởng để các "trái tim mới biết yêu hay đang tập yêu " hẹn hò tình tự. Tác giả bài nhạc chắc đã có nhiều kỷ niệm đẹp bên bờ hồ nên khi xa rồi vẫn còn lưu luyến cả hình bóng ai đó bên bờ hồ. Còn tôi thì : "Tôi xa Hà Nội khi tôi vừa đến chưa kịp mến thương. Bao nhiêu mộng đẹp tôi chưa hề có trong tim một lần. Hà Nội ơi ! Nào biết nói chi bây giờ tôi đến tôi đi vội vàng, nào biết lấy ai mà thương . . ."
Thế rồi chúng tôi đã xa hẳn Hà Nội, những thành phố chúng tôi đi qua không gây được sự chú ý của chúng tôi bao nhiêu. Trời càng lúc càng nóng nực, mọi người có vẻ uể oải, đa số ngủ gà ngủ gật. Lúc về xe đầy gần hết chỗ nên không còn nằm thoải mái như lúc đi. Xế chiều chúng tôi về tới Hà Tĩnh, khi đi qua Đèo Ngang tôi liền nhớ tới bài thơ của bà Huyện Thanh Quan :
Bước tới Đèo Ngang bóng
xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà
. . . . . . . . . .
Không biết ngày xưa bà Huyện Thanh quan đi đâu qua chốn này và có cảm xúc gì mà tức cảnh thành bài thơ trên khiến đám hậu bối chúng tôi khi còn làm học trò cứ phải "rặn" đỏ mặt mà bình luận thơ của bà. Đèo Ngang không lớn và không nguy hiểm lắm, cảnh trí ở đây rất tiêu điều. Cỏ cây chen đá thì tôi thấy, lá chen hoa thì chỉ thấy lá mà chẳng thấy hoa. Mấy chú tiều ngày xưa đi đâu cả rồi, chắc là đã qui tiên ráo trọi, nếu còn thì cũng chẳng lom khom nổi nữa.
Xe chúng tôi phải chạy quanh co theo sườn đèo nên cũng chẳng nhận diện rõ có còn mấy nhà lác đác bên sông không. Có lẽ vào thời đó bà Huyện Thanh quan tới đây vào lúc hoàng hôn nên cảnh trí chắc là thơ mộng hơn và khí hậu chắc dễ chiụ hơn. Còn chúng tôi tới Đèo Ngang với khí hậu nóng như lửa đốt, quang cảnh xơ xác buồn thảm, có hứng thú nào để mà tức cảnh thành thơ được. Thôi thì hoạ lại mấy câu cho vui :
Xe tới Đèo Ngang đã xế
chiều
Cỏ cây chết cháy nắng như thiêu
Lom khom mấy chú tiều chẳng thấy
Chỉ thấy chung quanh quá tiêu điều.
. . . . . . . . . . .
Về gần tới Quảng Trị, chúng tôi đi qua nhiều địa danh đã đi vào lịch sử với những trận đánh khốc liệt trong thời chiến tranh Quốc Cộng. Những địa danh này nếu bình thường có lẽ chẳng mấy ai biết tới. Nhưng trong những ngày tháng của "mùa hè đỏ lửa" những địa danh này được nhắc đi nhắc lại hằng ngày trong các chương trình thời sự, qua các bản nhạc ca tụng sự dũng cảm của những địa danh này. Thực ra hồi đó người ta chỉ nghe đến tên chứ chẳng mấy ai nhất là dân miền nam biết rõ những địa danh đó ở đâu, lớn nhỏ thế nào. Những địa danh mà tôi muốn nói tới là Khe Sanh, Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà . . .
Thực ra Gio Linh, Cam Lộ, hay Đông Hà . . . cũng chỉ là những quận, huyện nhỏ bé tầm thường và nghèo khổ. Nhưng chính vì nghèo khổ lại phải gánh chịu biết bao tang thương khốn khổ vì chiến tranh nên đã trở nên nổi tiếng. Đáng buồn là nổi tiếng mà chẳng được cái giải gì. Cho tới bây giờ những nơi này vẫn là những địa danh "có tiếng mà chẳng có miếng "nào. Chúng tôi về tới Quảng Trị thì hoàng hôn cũng đang tắt dần. Quảng Trị có đoạn đường rất rộng nhưng chẳng biết nên xếp vào loại nào, quốc lộ thì quá lớn, xa lộ thì chưa phải. Xe cứ việc chạy thoải mái : "đường mây rộng thênh thang chạy đại ".
Trung tâm Thánh Mẫu Lavang một lần nữa lại đón chào lũ chúng tôi. Lavang là trạm dừng chân chính của chúng tôi khi đi cũng như lúc về. Phái đoàn của chúng tôi lúc này lại có thêm mười mấy thành viên mũi lõ nữa nên các nhà trọ ở đây có vẻ náo nhiệt hẳn lên. Về tới Lavang thì trời cũng vừa tối, ai nấy tranh thủ đi tìm chỗ để ngả lưng. Mấy ông tây bà đầm to con tốt tướng mà lại sợ mấy con muỗi Việt Nam hơn ai hết. Muỗi Lavang là muỗi con nhà nghèo lâu lâu vớ được mấy khối thịt vừa to vừa thơm chắc là khoái lắm.
Nhưng tội nghiệp chúng không biết đêm đó có kiếm chác gì được không, có lẽ chỉ lượn chung quanh khóc ròng mà thôi, vì khi chúng tôi xách đồ đạc sang nhà trọ của mấy bà sơ thì thấy các ông tây bà đầm đã chiếm mỗi người một giường và đang hì hục giăng lưới chống quân muỗi tấn công biển người rồi. Lần đầu tiên mấy ông tây bà đầm sử dụng vũ khí chống biển muỗi nên người nào người nấy hí hoáy mãi mà chẳng biết phải làm sao. Nhìn thấy họ làm tôi vừa buồn cười vừa thấy tội nghiệp, nhưng rồi họ cũng thành công nhờ gia đình anh chị Bình nhảy vào giúp đỡ.
Gia đình tôi không tìm được chỗ trống lại dăt díu nhau trở lại nhà trọ bên cạnh. Tắm rửa, ăn uống xong cũng khá khuya chúng tôi leo lên giường táng xác ngay vì ai nấy đều mệt. Sáng sớm hôm sau, như những đứa con ngoan đạo mặc dù giấc mộng còn dở dang chúng tôi cũng cố gắng thức dậy đi tham dự thánh lễ một là để tạ lỗi với Chúa đã không giữ ngày Chúa nhật hôm trước, hai là tạ ơn Chúa và Mẹ Lavang đã gìn giữ qua một đoạn đường khá dài, đồng thời xin các Đấng tiếp tục đồng hành trong những ngày kế tiếp.
Sau thánh lễ người ta ra trước đài Đức Mẹ cầu nguyện khá đông. Chúng tôi cũng ra theo thầm thì cầu nguyện và từ biệt Mẹ. Trời mới tảng sáng mà mấy anh phó nhòm đã có mặt "rào đón" ông đi qua bà đi lại mời mọc để tạo cơ hội cho mấy cái máy của họ có dịp hoạt động. Chuyến đi chúng tôi cũng đã được mời nhưng không ai muốn cho họ cơ hội, vì chúng tôi đều có máy chụp. Tuy nhiên tôi đã nhờ một người trong nhóm họ làm cho gia đình tôi một tấm bảng nho nhỏ tạ ơn Đức Mẹ để lại làm kỷ niệm. Tính ra anh ta có lợi gấp mấy lần nếu chỉ chụp cho chúng tôi vài tấm hình.
Trên đường trở về nhà trọ chúng tôi ghé quán mua ít quà bánh ăn sáng, chỉ trong chốc lát chúng tôi đã bị rất nhiều những khuôn mặt "trong mùa thương khó" bao vây với những bàn tay xoè ra trông thật tội nghiệp. Nhưng chúng tôi chỉ thỏa mãn được phần nào rồi vội vàng rút lẹ. Điều này thật đáng xấu hổ nhưng chúng tôi không làm gì hơn được.