Một Vòng Kỷ Niệm

Chương IV

Thành phố Huế lùi lại sau lưng, chúng tôi đi dần về hướng thánh địa Lavang. Từ đường lộ vào thánh địa Lavang khoảng 3 cây số, đường nhỏ và cây cối um tùm. Thánh địa nằm giữa một làng quê rất nghèo. Xe chúng tôi vừa dừng lại trước một nhà trọ thì lập tức có rất nhiều người ăn xin và những đứa trẻ bán hàng bu quanh. "Dì ơi, mua dùm con bó bông đi dì, từ sáng tới giờ con chưa bán được bó nào. Chú ơi, mua dùm con cái quạt làm kỷ niệm, chiều nay con phải đi học mà sáng giờ chưa có gì ăn, chú làm ơn mua dùm con đi chú . . . "

Những lời năn nỉ của đám trẻ đang tuổi cắp sách đến trường ai nghe mà cầm lòng được. Mặc dù biết rõ những lời đó chỉ là "bài bản" trong nghề của chúng nhưng thật là đáng thương. Lẽ ra tuổi của chúng phải được tung tăng chơi đùa một cách hồn nhiên vô tư nhưng cả ngày cứ phải lẽo đẽo đuổi theo khách thập phương để kỳ nèo bán cho được dù chỉ là một cái quạt hay một bó bông chẳng đáng giá bao nhiêu. Bạn có thấy tuổi thơ Việt Nam đáng tội nghiệp không ? Chúng tôi đành mua cho đứa này cái quạt, đứa kia bó bông, đứa khác vài cây đèn cầy để dâng lên Đức Mẹ.

Điều sung sướng nhất đối với chúng tôi lúc này là được tắm rửa thoải mái và nghỉ ngơi sau hơn một ngày một đêm cầm cự với khí nóng, nhầy nhụa dưới mồ hôi và chân tay rã rượi mỏi mệt. Sau khi tắm rửa mát mẻ và thưởng thức một bữa ăn "thịnh soạn" theo kiểu nhà quê do các bà sơ ở đó nấu dùm (có thù lao) ai nấy đều lấy lại sức, mặt mày tươi rói không còn bơ phờ ủ rũ như lúc còn trên xe.

Thời gian còn nhiều chúng tôi đi tham quan một vòng thánh địa. Khu trung tâm đã được xây cất khá tươm tất, có dãy văn phòng, nhà khách cho các linh mục tu sĩ, nhà nguyện ... Các lối đi tráng xi măng sạch sẽ. Các bồn nước được dựng lên rải rác dành cho khách thập phương giải khát, nhất là trong các dịp đại hội. Vương cung thánh đường ngày xưa chỉ còn lại mặt tiền với tháp cao. Nhà thờ đã được làm lại bằng tôn đơn sơ nhưng khá rộng, chung quanh hoàn toàn bằng kíếng, người đứng ngoài cũng có thể tham dự thánh lễ được.

Giữa cái nắng chói chang tưởng chừng như có thể cháy mặt, cả đoàn chúng tôi kéo nhau ra viếng Đức Mẹ Lavang. Đài Đức Mẹ rất đơn sơ nhưng có một bầu khí linh thiêng đặc biệt. Một vài người cũng đang ngồi dưới chân Mẹ lần hạt. Có một điều không tương xứng là mấy cây cổ thụ thì to mà tượng Đức Mẹ thì hơi nhỏ. Chúng tôi thành tâm thắp nến, cắm bông rồi cùng cầu nguyện tạ ơn Đức Mẹ, đồng thời xin Đức Mẹ cùng đồng hành với chúng tôi để che chở gìn giữ chúng tôi trong suốt cuộc hành trình này.

Từ giã Đức Mẹ với tâm hồn thư thái, chúng tôi ghé vào tiệm của mấy bà sơ mua ít đồ kỷ niệm. Tôi đang đứng ngắm mấy bức tranh treo trên tường, một ông già đội nón bước vào khoanh tay kính cẩn : "Con chào cha ạ, cha mua đồ hả cha". Tôi còn đang thẹn thùng chưa kịp trả lời thì ông đã lại trở ra. Hai bà sơ (mít) Thật và Tuyết nhà tôi cứ nhìn nhau cười tủm tỉm. Chúa Mẹ ơi không biết có cha cụ nào ở Việt Nam mặc áo thun quần xà lỏn cũn cỡn đi mua đồ như tôi không ?

Tính ra chúng tôi đã nghỉ ngơi được 7 tiếng đồng hồ, mọi người đã khoẻ như sáo, tươi tỉnh leo lên "khách sạn di động". 17 giờ chiều cùng ngày xe chúng tôi lại từ từ lăn bánh hướng về Hà Nội. Vì đã lấy lại sức, mấy "đài phát thanh" lại bắt đầu ồn ào với những chuyện nổ như bắp rang, đôi khi phát ngôn bừa bãi và tục tĩu, nhưng sau những câu chuyện bù khú là những tràng cười giòn tan như pháo nổ.

Khi ngang qua cầu Hiền Lương trên sông Thạch Hãn, tôi chăm chú nhìn thật kỹ dấu tích lịch sử đã từng làm bao nhiêu triệu trái tim rướm máu. Con sông bé nhỏ tầm thường nhưng lại có sức chẻ đôi một đất nước, thật đáng buồn. Cây cầu sắt mang tính lịch sử ngày xưa đã bị phá hủy nằm ngổn ngang hai bên bờ, thay vào đó là một chiếc cầu đúc mà chúng tôi đang đi qua cách đó vài chục mét. Bây giờ con sông này đã nối liền hai miền đất nước nhưng đã không chữa lành được vết thương ngày xưa trái lại còn làm cho loang lổ thêm. Vậy là chúng tôi đang đi sâu vào vùng đất mà ngày xưa chúng tôi không hề nghĩ là có cơ hội được đặt chân đến : Miền Bắc.

Tới địa phận Đồng Hới thì trời vừa tối. Chúng tôi được thông báo là các quán ăn ngoài khu vực này đóng cửa rất sớm thành thử tốt nhất bây giờ phải tranh thủ kiếm cái gì bỏ bụng không thì sẽ đói. Chúng tôi đồng ý ghé vào một quán ăn thuộc khu vực "miền bắc nước ta" để dùng cơm tối. Điều làm chúng tôi thất vọng là đồ ăn ở đây quá tệ, khi thức ăn được dọn lên chúng tôi ngồi nhìn nhau ngao ngán vì đồ ăn tệ mà người nấu có lẽ cũng quá dở. Cuối cùng chúng tôi đành nhắm mắt dồn đại mấy "trái đắng" ấy cho đầy bụng chứ biết làm sao hơn, để có sức chịu đựng vì cuộc hành trình còn hứa hẹn rất nhiều gian khổ. Đó là kỷ niệm đầu tiên trên mảnh đất "miền bắc nước ta".

Một biến cố cũng cần kể ra cho vui là sau khi ăn xong ra khỏi quán thì một chiếc xe hình như của cán bộ nhà nước cũng ghé vào quán. Một đám thanh niên lực lưỡng hơi có vẻ cô hồn từ trên xe nhào xuống và ùn ùn kéo vào quán. Các "nữ tướng" trong phái đoàn chúng tôi hoảng hốt như gặp tụi hải tặc Thái Lan ngày nào. Bà nào bà nấy cuống quít lên như gà mắc đẻ, có tí tiền còm đi chơi lo đút chỗ này chỗ kia mà vẫn không yên tâm. Khi xe chạy được một lúc thay vì phát ngôn bừa bãi như mọi lần, các bà đề nghị với tôi :"Bây giờ mình đọc kinh đi anh Thục, đọc 50 kinh kính Đức Mẹ đi". Lạ thật, thường ngày mấy bà này nói chuyện bù khú Chúa Mẹ còn phải tránh xa hôm nay trở chứng hay sao mà tự dưng đạo đức thế này. Đây đâu phải là chuyến hành hương thực sự, chỉ là chuyến đi "rông" thôi làm gì mà phải lần hạt tới 50 kinh.

Thực ra tôi đã biết tỏng tâm lý mấy bà khi gặp hoạn nạn, khó khăn thì tình nghĩa Mẹ con thắm thiết như thế đấy. Tôi mỉm cười trong bụng, chiều ý các bà và cũng là ý của tôi đã có từ khi mới khởi hành chuyến đi nhưng chưa dám đề nghị, sợ có người bảo đạo đức dổm. Tôi đề nghị không cần đọc 50 kinh mà chỉ đọc 10 kinh thôi nhưng đọc thật tâm tình và sốt sắng là đủ. Vì tôi thừa biết nếu có đọc 100 kinh cũng chẳng ích lợi gì vì lòng các bà khó mà tập trung tinh thần được lúc bấy giờ. Cả xe vang lên những tiếng kinh cầu sốt sắng như một đàn chiên ngoan đạo trong một chuyến hành hương trở về với Mẹ. Nhưng những con chiên lạc đàn này sau khi "kính" Đức Mẹ lại quay ra "kính" qủy sứ liền tù tì với những chuyện long trời lở đất. Phải chăng Đức Mẹ đã nhận lời mà ban cho các bà ơn can đảm quên đi những tên bộ tặc lúc nãy ?

Trời đã khuya, tiếng nói tiếng cười rồi cũng phai nhạt dần theo thời gian, trả lại sự yên tịnh cho màn đêm. Khi các thính giả đã mệt mỏi không còn sức để nghe thì các "đài phát thanh" cũng phải tôn trọng giấc ngủ của thính giả mà im hơi lặng tiếng. "Khách sạn di động" vẫn di động đều đặn, bỏ lại sau lưng những đoạn đường ngút ngàn trong đêm tối. Đường xá tại "miền bắc nước ta" phải công nhận đã được sửa sang tốt hơn rất nhiều so với miền nam. Đêm nay mọi người được một giấc ngon. Trời tờ mờ sáng chỉ còn vài người đang luyến tiếc những giấc mơ thần tiên nên còn nằm mãi trong lò nướng.

Ngoài trời mưa lất phất, xe cộ lưu thông thưa thớt. Những thửa ruộng hai bên đường được chia ra làm nhiều ô nhỏ, một vài chỗ lúa xanh tươi mơn mởn vì đã tới thời con gái dậy thì, chỉ có điều "miền bắc nước ta" không có những cánh đồng cò bay thẳng cánh như ở miền nam. Thỉnh thoảng có những nơi thấy người dân miền bắc vẫn còn hì hục tát nước vào ruộng bằng chiếc gầu sòng thật tội nghiệp. Những chiếc gầu sòng loại này những người dân miền nam đã cho vào viện bảo tàng lâu rồi.

Tôi có một cảm nhận : "miền bắc nước ta" nếu tính từ biến cố 1954 tới giờ đã gần nửa thế kỷ mà vấn đề khoa học kỹ thuật vẫn dậm chân tại chỗ không có một tí tiến bộ nào, hay có chăng chỉ một chút ở các thành phố lớn. Đồng ruộng miền bắc tuy ít, nhưng điểm chính là vì dân chúng quá nghèo, thêm vào đó ánh sáng văn minh không lọt vào được nơi các vùng nông thôn nghèo khổ. Trong miền nam từ sau biến cố 1975 mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng sự văn minh tiến bộ vẫn phát triển không ngừng. Bằng chứng là những năm tôi còn ở nhà sau biến cố, người nông dân vùng tôi phải dùng trâu bò để cày bừa, bây giờ trâu bò nếu có chỉ để làm kiểng hoặc chỉ làm những công việc thông thường như kéo lúa ngoài ruộng về nhà ...

Thuở đó người ta còn sử dụng những chiếc gầu sòng cố hữu được du nhập từ "miền bắc nước ta" vào sau biến cố 1954 đế tát nước vào ruộng. Thuở đó đã có máy bơm nhưng vì kinh tế đang suy sụp, xăng dầu khan hiếm rất ít người có đủ điều kiện sử dụng máy bơm. Thế nhưng bây giờ kể cả máy bơm cũng đã trở nên lỗi thời vì đã có mô tơ điện. Mấy nhà sản xuất gầu sòng ngày xưa có lẽ đã đổi nghề để sinh tồn. Ngày đó những người nông dân còn ì ạch đập từng bó lúa hoặc có máy suốt nhưng còn rất đơn sơ và vất vả. Ngày nay những máy suốt rất hiện đại người ta chỉ việc thảy từng bó lúa vào rồi dùng bao hứng lúa hạt đem về là xong, tiến bộ hơn nữa là dàn máy có thể di chuyển đi bất cứ nơi nào tùy thích.

Ngày xưa người nông phu rất khốn khổ khi thu hoạch lúa vào mùa mưa, vì nếu cứ mưa dầm mưa dề lúa không phơi được sẽ lên mộng rất mau và coi như vụ mùa thất bại. Ngày nay cho dù lúa ướt mấy cứ đổ lên lò sấy một đêm là mọi sự được giải quyết ổn thoả. Nói chung vấn đề làm ruộng trong miền nam đã được hiện đại hoá rất nhiều, năng suốt cũng gấp bội hơn trước. Trở về thăm quê lần này tôi thấy thật mừng cho gia đình tôi nói riêng và cho mọi người sống bằng nghề nông nói chung. Họ không còn phải hùng hục để phí sức lao động như ngày xưa nữa. Đó là một thí dụ điển hình về sự tiến bộ ở miền nam ít là trong lãnh vực nông nghiệp.

Thỉnh thoảng từ đường lộ có những con đường dẫn vào làng ở xa xa làm tôi liên tưởng tới những lũy tre làng với những con đê đầu làng mà khi xưa chỉ có trong trí tưởng tượng của tôi khi đọc những tác phẩm nói về chúng. Hôm nay tôi không cần tưởng tuợng nữa vì đã được nhìn thấy tận mắt những con đê này. Nhưng có lẽ những con đê ngày nay đã khác hẳn ngày xưa, đã lớn hơn, cao hơn, sạch sẽ hơn . . . vì tôi thấy xe Honda, xe đạp chạy thoải mái trên những con đường này.

Khi nhìn thấy những con đường dẫn vào làng này tôi nhớ ngay tới bài hát : " Ngày lấy chồng em đi qua con đê, con đê mòn lối cỏ về , có chú bướm vàng bay theo em . . ." Người con gái quê không có điều kiện đi xe hoa mà phải lê từng gót chân trên con đê làng bụi bặm để về nhà chồng. Nhưng dù đi xe hay đi bộ tình yêu vẫn không có gì khác biệt và hạnh phúc vẫn có thể tồn tại theo thời gian. Rồi khi người con gái đã là vợ, là mẹ . . . vẫn nhớ mãi con đường ngày nào mình đã đi qua để làm một cuộc đổi đời với hành trang vĩ đại là : Tình Yêu.

Con đường đó có thể là con đường mà người con gái không chỉ đi qua khi về nhà chồng mà đã từng đi qua từ khi còn thơ bé. Con đường do rất nhiều bàn chân đạp lên hằng ngày đã tạo nên một lối mòn. Người con gái không chỉ nhớ con đường với những dấu chân mình mà còn nhớ cả những con bướm vàng nhỏ bé đã bay theo để đưa tiễn, để chúc mừng ngày mình vu quy ... Tôi chưa có cơ hội vào tận làng để thấy rõ hơn những điều được các bậc tiền bối mô tả. Những gì tôi nhìn thấy xa xa chỉ là những mái nhà ngói nhỏ đơn sơ với đủ loại cây xanh tốt bao quanh.

Trời mỗi lúc càng mưa lớn hơn, chúng tôi vào tới Hà Nội khoảng 6 giờ sáng. Hà Nội không cho các loại xe lớn vào thành phố trừ khi có giấy phép của công an. Xe chúng tôi chưa xin giấy phép nên phải đi bọc vòng đai của Hà Nội. Ngang qua các dãy phố nhỏ, người dân Hà Nội đang lũ lượt chở hàng bằng xe đạp hoặc gánh hàng ra chợ : rau muống, rau đay, rau cải . . . đủ các loại.

Vì đang mưa, đường phố lầy lội dơ dáy, nhiều con đường rất hẹp, hai xe tránh nhau rất vất vả. Xe chúng tôi phải khó khăn lắm mới đi qua được những chỗ đông người. Khoảng 6 giờ 30 chúng tôi vào tới con đường lớn nằm trên đê của sông Hồng, nghĩa là gần trung tâm Hà Nội. Thế là sau hai ngày hai đêm ăn đường ngủ xe, vượt qua gần hai ngàn cây số, chúng tôi đã vào được Thăng Long, đất " ngàn năm văn vật".

Trời vẫn mưa nặng hạt, bầu trời Hà Nội ảm đạm u ám. Thành phố Hà Nội cũng có vẻ trầm lặng như Huế, khác hẳn Sài Gòn. Hà Nội cũng nhỏ hơn nhiều so với Sài Gòn, nhà cửa chật chội, người dân Hà Nội sống chen chúc, có những khu vực nhà cửa rất mắc, nghe nói tới mấy chục cây vàng một mét vuông. Nhưng không hiểu sao người ta vẫn có tiền để mua.

Chúng tôi đi vòng vòng kiếm khách sạn. Khách sạn thì nhiều nhưng không đủ chỗ cho cả phái đoàn chúng tôi, (kể cả nhóm của anh Bình sẽ về hôm sau tổng cộng 33 người lớn nhỏ). Cuối cùng chúng tôi phải điều đình với bà chủ khách sạn cho chúng tôi mượn thêm nệm nằm dưới đất mỗi phòng 4-5 người thay vì chỉ hai người theo tiêu chuẩn, chúng tôi đồng ý trả thêm tiền. Bà chủ khách sạn rất tử tế, dễ thương, bà đã thông cảm hoàn cảnh của chúng tôi và đồng ý những đề nghị trên. Ổn định xong phòng ốc chúng tôi cảm thấy thật thoải mái, ngả lưng xuống giường, ôi cái cảm giác thật thần tiên như chưa bao giờ có mặc dù mới có mấy ngày nằm "ghế nệm" .

Mấy chị em chị Bình lăng xăng mướn xe về thăm quê ở Nam Định. Gia đình tôi và mấy đứa con của chị Bình thì nằm nhà nghe mưa rơi Hà Nội. Bà con của tôi ở Nam Định cũng nhiều, tôi cũng muốn về thăm một lần quê cha đất tổ cho biết nhưng rất tiếc tôi không thể thực hiện vì vấn đề này không nằm trong chương trình hoạch định nên tôi không có địa chỉ của họ. Hơn nữa với thời gian quá ít tôi không có hứng thú để về. Thế là chúng tôi nhận trách nhiệm quản lý mấy đứa con của chị Bình ở Hà Nội còn mấy chị em chị Bình thì du hí ở Nam Định. Để khỏi lang thang kiếm ăn, chúng tôi đặt phần ăn luôn trong khách sạn. Giá sinh hoạt ở Hà Nội rất rẻ so với Sài Gòn. Phần ăn mỗi người 10.000 Đ/VN một bữa gồm 5-6 món ăn no nê thoải mái.

Chúng tôi định ăn cơm trưa xong sẽ ra dạo phố Hà Nội, xem văn vật của đất ngàn năm như thế nào, nhưng trời vẫn mưa rỉ rả không cho chúng tôi cơ hội, chúng tôi lại đành chôn chân trong bốn bức tường khách sạn nhìn ra ngoài mà thèm thuồng như người tù thèm sự tự do bên ngoài. Không biết có phải tại cảm giác mình là người xa quê hương hay không mà đứng trong cửa sổ khách sạn nhìn ra đường thấy cảnh vật thật buồn hiu. Nói là :"Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ " thì không đúng, bởi vì tôi đâu có buồn, đi chơi chỗ này chỗ kia sướng thấy mồ sức mấy mà buồn. Chỉ có điều là thời gian đi chơi thì ít mà lại bị chôn chân ở đây thì còn có gì buồn hơn. Đúng là tại trời mưa, mà mưa thì ở đâu trông cũng buồn vậy chẳng cứ gì ở Hà Nội. Mặc dù trời mưa nhưng bên ngoài trời vẫn nóng, cái nóng không rát mặt như ở miền trung nhưng cũng đủ bứt rứt khó chịu.

Với tâm trạng không vui chúng tôi lại leo lên giường để thả hồn ra Hồ Gươm, Hồ Tây hoặc 36 phố của Hà Thành cho đỡ thèm. Nhưng rồi hồn chúng tôi đã không dừng lại ở Hồ Gươm hay 36 phố mà lại phiêu bồng đi những nơi nào thật xa xôi, lạ lùng. Đến khi trở về thực tại thì đã 16 giờ chiều. Ngoài trời vẫn âm u nhưng chỉ còn mưa lấm tấm. Chúng tôi sợ không còn cơ hội để "riễu" phố Hà Nội nên tranh thủ đi một vòng vì coi như chúng tôi đã mất một ngày thật oan uổng.

Thế là chúng tôi dẫn một dám lâu la tản bộ ra phố. Mục đích đầu tiên của chúng tôi là ra tham quan Hồ Hoàn Kiếm, bởi vì ra Hà Nội mà không biết Hồ Hoàn Kiếm tròn méo thế nào thì chưa phải đã ra Hà Nội. Nhưng Hồ Hoàn Kiếm ở chỗ nào thì chúng tôi còn mù tịt, chúng tôi chẳng khác nào những con người từ hành tinh khác tới. Tôi dẫn đoàn binh tí hon nhắm hướng đi đại. Qua một vài con đường khá vắng vẻ, tôi dừng lại mua tấm bản đồ Hà Nội. Mở ra xem thật không ngờ Hồ Gươm đã gần ngay trước mặt. Có lẽ Thượng Đế cũng không muốn để lũ chúng tôi "đi không chẳng lẽ lại về không" nên đã hướng dẫn chúng tôi một cách âm thầm. Đi hết một con đường nữa rồi băng ngang một con đường lớn chúng tôi tới được bờ hồ.

Hồ Gươm ơi, ta hoan hỉ chào mi, ta đã nghĩ rằng cả đời ta có lẽ chỉ được gặp mi trong giấc mộng, chỉ được nhìn thấy mi trong phim ảnh, chỉ được nghe đến mi qua miệng người đời. Nhưng hôm nay ta đang đứng bên cạnh mi trong trạng thái vui mừng như gặp lại người bạn tri kỷ sau bao ngày xa cách.

Hồ Gươm thực ra chẳng có gì đặc biệt hay giá trị gì ngoài tính cách lịch sử với truyền thuyết lâu đời của nó. Hồ Gươm cũng kông lớn như tôi tưởng. Tôi đứng quan sát một vòng trước khi đi dạo chung quanh hồ. Xa xa một đầu là Tháp Rùa, đầu kia là đền Ngọc Sơn với cầu Thê Húc. Tháp Rùa đứng sững trên một cù lao nhỏ như một cái bè giữa giòng sông. Cầu Thê Húc nhìn từ xa như trong các phim ảnh có vẻ rất thơ mộng, nhưng đến tận nơi thì thấy nhỏ và cũng tầm thường.

Trời lúc này ngưng mưa nhưng mặt trời cũng đã đi khuất, chúng tôi cả đám theo nhau bước " từng bước chân âm thầm" chung quanh bờ hồ về phía cầu Thê Húc. Lối đi chung quanh hồ được tráng ximăng hoặc lát gạch tương đối sạch sẽ, nhiều chỗ trồng bông trồng kiểng khá đẹp. Đây đó dưới gốc cây ven hồ, bên cạnh vườn hoa vài cô cậu trẻ đang đứng hoặc ngồi làm duyên cho mấy anh phó nhòm chụp hình.

Nhưng có lẽ cảnh để chụp hình đẹp nhất là khu vực cầu Thê Húc và đền Ngọc Sơn. Khu vực này thợ chụp hình nhan nhản, lượn qua lượn lại săn đón mời mọc rất ân cần, nhưng khách muốn chụp chẳng bao nhiêu. Ở đây con gái bà Trưng bà Triệu làm nghề phó nhòm khá nhiều. Mấy cô gái " Hà Lội" ăn nói " ngọt như đường cát mát như đường phèn" làm cho các chú "ruồi" cứ lăn đùng ra chết tươi.

Vì trời âm u nên chúng tôi không đem theo máy quay phim và chụp hình định để hôm sau trời đẹp sẽ ra chụp ít hình kỷ niệm. Một cô thợ chụp hình khéo mời quá chúng tôi đành chiều ý chụp mấy tấm vừa để có hình kỷ niệm vừa giúp thêm một người có công ăn việc làm (hihihi một chú ruồi sa lưới).

Thực ra chúng tôi không muốn chụp vì trời xấu quá, nhưng cô thợ cười nói :" Không sao đâu, thợ chụp thì bảo đảm phải đẹp cứ yên tâm đi". Thế là chúng tôi đành chấp nhận làm người mẫu cho cô gái Hồ Gươm toại nguyện. Sau khi chúng tôi đi một vòng hồ trở lại đã có hình đem về. Đứng trên cầu Thê Húc nhìn ra Tháp Rùa cảnh khá đẹp và thơ mộng.

Nghe nói trong đền Ngọc Sơn có rùa mấy đứa con tôi đòi vào xem, nhưng muốn vào phải mua vé, hơn nữa trời đang nhá nhem tối nên chúng tôi khất để hôm sau. Chụp hình xong chúng tôi tiếp tục đi dạo quanh bờ hồ, vừa hết vòng thì cũng sắp tới giờ cơm tối, chúng tôi tàn tàn trở về khách sạn cho kịp giờ cơm. Thế là một ngày thứ nhất tại Hà Nội chúng tôi chỉ đi được một vòng Hồ Gươm, ngoài ra phố thị như thế nào chúng tôi còn mù tịt.

Lavang
Hà Nội