Một Vòng Kỷ Niệm

Chương III

Chuyến viễn du Sài Gòn - Hà Nội tôi và Bình (cồ) ở Pháp đã hoạch định với nhau trước khi về Việt Nam, vì chúng tôi may mắn có cơ hội nghỉ hè vào cùng thời điểm và cả hai đều có ý định về thăm quê hương. Theo chương trình, chị Bình và các con về trước còn Bình sẽ về sau đó 2 tuần cùng với mấy người bạn Tây và bay thẳng về Hà Nội. Gia đình tôi thì về sau chị Bình một tuần. Chúng tôi về dưới quê (Cái Sắn) thăm gia đình trước rồi trở lên nhà chị Bình ở Dốc Mơ (Gia Kiệm) để thực hiện chuyến đi. Anh chị Bình đang xây một căn nhà rất lộng lẫy, nguy nga như một cung điện. Tuy chưa hoàn tất nhưng chúng tôi đều có chỗ ngả lưng thật êm ái, thoải mái.

Gia đình tôi và gia đình chị Bình gồm con cái và mấy người em của chị Bình tổng cộng 18 người. Chúng tôi thuê một chiếc xe lớn 45 chỗ ngồi đi trong 10 ngày. Chương trình của chúng tôi là đi thẳng ra Hà Nội để đón phái đoàn của Bình rồi cùng đi chơi chung.

Xe khởi hành từ Dốc Mơ lúc 5 giờ sáng. Sự sống của một ngày mới đang bắt đầu sau những giờ vắng lặng trong đêm tối. Dọc đường, những con chiên ngoan đạo đang lũ lượt từ các thánh đường trở về sau khi chu toàn bổn phận của một người "có đạo" là đến vấn an và thờ phượng Thiên Chúa. Với niềm tin sắt đá họ đã dành cho Đấng họ tôn thờ những giây phút thánh thiện nhất của một ngày, vì chính một ngày sống là do Thiên Chúa ban tặng cho con người.

Những người sống bằng nghề buôn bán thì tranh thủ đưa hàng tới chợ để kịp chào khách mở hàng. Người mua cũng tất tả ra chợ mong mua được những hàng tươi ngon trước người khác. Các cửa hàng lề đường dĩ nhiên cũng theo nhau mở cửa, bày hàng đón chào khách qua lại. Cứ như vậy lề đường, phố chợ cứ từ từ ồn ào náo nhiệt. Đoạn đường quốc lộ 1A từ Dầu Giây - Long Khánh khá tốt, trời tảng sáng xe qua lại còn thưa thớt, xe chúng tôi chạy rất thoải mái nhưng chắc cũng không quá 70 km/giờ. Ngang qua một thánh đường vừa tan lễ, giáo dân đang xếp hàng băng ngang qua đường đưa tiễn một đồng loại, một con chiên mà Chúa đã gọi ra khỏi thế giới trần tục. Một đoàn người thật dài ngoằn nguèo như con rắn. Tôi có một cảm giác xúc động, không chỉ thương người quá vãng mà cảm xúc hơn cả là "tình người".

Tình người Việt Nam quả là đậm đà bao la, mặc dù chỉ là một người quen, một người cùng chung xứ đạo nhưng khi họ khuất bóng ai nấy cũng cảm thương, bùi ngùi đưa tiễn tới nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi đã từng đi dự một vài đám tang của người Tây phương, nhiều lắm cũng chỉ vài chục người là cùng. Chúng ta hãnh diện vì con người Việt Nam tuy nghèo tiền nghèo bạc nhưng không hề nghèo nhân nghĩa.

Từ lúc khởi hành trong xe ồn ào vui nhộn : tiếng nói, tiếng hát và nhất là tiếng cười vang dội làm bầu khí tưng bừng như một ngày hội. Nhưng đến gần trưa những tiếng nói của mấy "đài phát thanh" hầu như đã mệt mỏi nên bắt đầu "rè" dần rồi từ từ im bặt. Mặt trời bắt đầu "dòm ngó" chúng tôi, những tia nắng ấm xuyên qua cửa kính vào trong xe làm cho mọi người có cảm giác đang ngồi bên lò sưởi trong những ngày mùa đông bên Âu Châu.

Xe vẫn đều đặn bỏ lại sau lưng từng đoạn đường quanh co, lồi lõm hoặc phẳng mịn. Gió vẫn lùa vào qua những khung cửa mở hé làm dịu phần nào bầu khí ngột ngạt trong xe. Nhiều con mắt đã lim dim và đang thả hồn vào một cõi thiên thai nào đó. Vài cái đầu đã gật gù theo nhịp độ "nhảy múa" của xe khi phải trườn mình qua những đoạn đường loang lổ. Những con mắt còn tỉnh táo thì dán vào khung kính để thưởng ngoạn cảnh vật thiên nhiên.

Càng đi dần ra phía bắc cảnh vật càng tiêu điều, xơ xác. Cả con người trông cũng cằn cỗi hom hem, vì những con người ở đây đã sinh ra và lớn lên trong vùng được mệnh danh là "đất cày lên sỏi đá". Phải chăng định mệnh của họ đã được an bài ? Hằng ngày những con người ở đây phải chiến đấu với thái độ làm biếng của chính mình và ra sức khắc phục thiên nhiên để sống, để tồn tại. Nhưng có lẽ Thượng Đế đã muốn tạo nên những con người này để gánh chịu phần nào khổ đau thay cho người khác. Vì thế, cho dù họ cố gắng đến đâu cuộc đời của họ vẫn "một ngày như mọi ngày", không thể khá hơn được.

Chỉ thoáng nhìn những cảnh vật thiên nhiên người ta cũng phải cảm thương cho những con người đang phải bám lấy mảnh đất thân thương cằn cỗi này. Cây cối vì thiếu nước đứng èo uột thiểu não như những người đang tìm nước trong sa mạc. Miền Trung đang gánh chịu cơn hạn hán trầm trọng. Những thửa ruộng lúa đã lên khoảng một gang mà đất nứt nẻ chằng chịt như những mạng nhện. Nhiều chỗ bị cháy xém từng mảng như khuôn mặt bị tàn nhang của một thiếu nữ xinh đẹp. Những con bò đang gặm cỏ đây đó dọc đường cũng còi cọt hom hem không kém gì chủ của nó. Những nơi "đồng khô cỏ cháy" thế này thì loài bò cũng cùng chung số phận hẩm hiu với con người.

Càng về chiều sức nóng càng mãnh liệt, mấy "đài phát thanh" trong xe cũng hoạt động yếu ớt, gương mặt người nào cũng bơ phờ, hốc hác. Chúng tôi "rờ" được tỉnh Bình Định khi trời vừa tối. Bình Định nổi tiếng có môn võ cổ truyền độc đáo người ta thường gọi là võ Bình Định. Trước năm 75 chú tôi là lính thiết giáp đóng ở vùng này và tôi được nghe chú tôi kể gái Bình Định rất giỏi võ, anh nào léng phéng tán tỉnh "không đúng bài bản" sẽ bị mấy nường quật cho đến bố mẹ nhìn không ra. Chú tôi còn nói đến nhiều địa danh với những trận đánh khốc liệt như : Bồng Sơn, Phù Cát, Phù Mỹ. . .

Tối hôm đó sau một bữa ăn chẳng ra gì trong một quán phở tại huyện Phù Mỹ, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình và đêm đó dĩ nhiên là chúng tôi nghỉ đêm trong "khách sạn di động" , không có giường nệm nhưng có ghế nệm hẳn hoi. Mỗi người hai ghế tha hồ co quắp mà ngáy. Ai ngáy được cứ việc ngáy thoải mái vô tư, ai không ngáy được thì chịu khó nhai đi nhai lại điệp khúc : "Thức trọn đêm nay để nhớ thương . . . ai ? " và như thế mới có được cái cảm giác "thức đêm mới biết đêm dài".

Đêm đó tôi may mắn thiếp đi được vài tiếng đồng hồ khi giật mình tỉnh dậy tứ bề tĩnh mịch. Xe đã dừng lại bên lề đường từ lúc nào tôi không biết. Mấy bác tài xế cũng đang dạo chơi một nơi tiên cảnh nào đó. Tôi nhìn đồng hồ mới 3 giờ sáng, nhìn ra ngoài đường phố khá rộng rãi, đèn đường tương đối sáng sủa nhưng cả phố đang chìm trong yên lặng. Tôi chưa xác định được đây là đâu cho đến khoảng 15 phút sau một bác tài và mấy người khác cũng thức giấc.

Bác tài mở cửa xe cho chúng tôi xuống duỗi chân duỗi cẳng cho dãn gân cốt và hít thở khí trời cho thoải mái. Tôi đi vòng vòng ngắm trước ngắm sau và tôi đã nhận ra chỗ chúng tôi đang đứng là Đà Nẵng nhờ phía trước có trạm thu tiền "lộ phí" và một cổng thật to với hàng chữ "Thành Phố Đà Nẵng". Đường phố vắng tanh nhưng khá đẹp. Tôi nhận thấy Đà Nẵng không những là một thành phố đẹp mà còn là một thành phố có nếp sống khá văn minh nhờ chuyến trở về chúng tôi đi ngang Đà Nẵng lúc xế chiều thấy đường phố khá sạch sẽ và lề đường trước mỗi nhà có một thùng rác khá lớn giống như thùng rác chúng tôi dùng bên Đức.

Gần chỗ xe chúng tôi đậu có lẽ là một quán hay một lò cung cấp "cờ tây". Bên lề đường dưới ánh lửa bập bùng hai người đàn ông đang ra sức tiễn đưa một chú "nai đồng quê" về cõi Niết Bàn. Một người cứ quạt đều tay, người kia điều khiển chú "nai đồng Quê" cho toàn thân chú được tiếp giáp đều với ngọn lửa. Chẳng mấy chốc chú "nai đồng quê" vắn số từ màu trắng bóc đổi thành màu vàng nghệ, chỉ có hàm răng vẫn trắng toát nhe ra cười nham nhở.

Chúng tôi ra khỏi thành phố Đà Nẵng khi tờ mờ sáng và bắt đầu leo lên đèo Hải Vân. Bác tài nói với chúng tôi sở đĩ bác cho xe dừng ở Đà Nẵng là để mấy tài xế nghỉ ngơi đôi chút và nhất là tránh leo đèo ban đêm khá nguy hiểm. Tôi nghe nhiều người nói đi qua đèo Hải Vân ghê lắm, trước đó tôi cũng hơi lo, nhưng khi xe ọc ạch bò lên dốc quanh co tới gần đỉnh đèo tôi cũng không có cảm giác sợ hãi vì đường đèo ngày nay đã được sửa (nâng cấp) khá rộng và khá tốt.

Lên tới đỉnh đèo xe dừng lại nghỉ cho chúng tôi chiêm ngắm cảnh thiên nhiên, một công trình của Tạo Hoá. Trời đã sáng hẳn, khí hậu hơi lạnh nhưng dễ chịu. Cảnh vật không có gì đặc biệt, xa xa dưới chân đèo một bên là Đà Nẵng, bên kia là Huế. Nhìn sâu xuống dưới, những chiếc xe nhỏ như những xe đồ chơi của con nít đang ì ạch lên xuống những đoạn đường quanh co theo sườn đèo. Tôi uống vội ly cà phê buổi sáng, chụp vài tấm hình kỷ niệm rồi lại lên xe tiếp tục hành trình.

Khoảng một giờ sau chúng tôi tới Huế, nhưng chỉ đi qua chứ không ghé. Huế có vẻ trầm lặng chứ không ồn ào náo nhiệt như Sài Gòn. Có nhiều con đường thẳng với hai hàng cây xanh mát trông rất đẹp. Từ trên xe chúng tôi có thể nhìn thấy khu đại nội phía bên phải, bên trái là giòng sông Hương thơ mộng. Cả hai đều đi vào lịch sử Việt Nam, vì thế người dân đất Việt có mấy ai chưa từng nghe đến những danh xưng lịch sử này.

Nói đến sông Hương mà không nói đến Núi Ngự thì quả là thiếu sót, chỉ đáng tiếc chúng tôi không có cơ hội đến Núi Ngự dù chỉ để chụp một tấm hình làm kiểng. Và dĩ nhiên cũng không thể không nói đến cầu Trường Tiền. Tiếc rằng chúng tôi cũng không đi qua cầu Trường Tiền để được nhìn tận mắt "sáu vai mười hai nhịp" của Trường Tiền mà chúng tôi đi qua ngả cầu Phú Xuân, một cây cầu đúc song song với cầu Trường Tiền cách nhau khoảng vài trăm mét.

Cảnh Huế