<%@LANGUAGE="JAVASCRIPT" CODEPAGE="CP_ACP"%> Untitled Document

Các bạn thân mến,
Đầu năm 2003, nhân dịp về thăm nhà, tôi có dịp ra Miền Bắc thăm Hà Nội, ngắm cảnh Vịnh Hạ Long, sau đó đi xe lửa vào Huế để viếng thánh địa La Vang và thăm các lăng tẩm và di tích của Cố Đô Huế. Chuyến đi chỉ có gần một tuần nhưng cũng để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc. Gởi các bạn một đoạn tạp bút ngắn ghi vội sau chuyến đi đáng nhớ này.

Đố ai nằm võng không đưa
Ru con không hát đò đưa không chèo
Đố ai đốt cháy ao bèo
Để anh gánh đá Đông Triều về ngâm
Bao giờ cho đá nẩy mầm
Cho sung có nụ cho hành có hoa
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.

Bài ca dao này chắc xuất phát ở vùng Hải Dương Hải Phòng liên quan đến vùng núi đá vôi ở Đông Triều. Sở dĩ tôi đoán vậy vì trên chuyến xe đi từ Phát Diệm vòng xuống Nam Định qua Chợ Nối để vòng qua Quảng Ninh ra vịnh Hạ Long, thì khi đi ngang Đông Triều tôi thấy nổi bật lên giữa một vùng đồng bằng là những dãy núi đá vôi như ở Ninh Bình. Những ngọn núi đá vôi này sẽ làm du khách nhớ hoài vì trông rất “ấn tượng”. Chúng gây ấn tượng là vì nguyên cả vùng Hải Dương, Hải Phòng là vùng đồng bằng đất thấp. Bỗng khi tới Đông Triều thì đá mọc lên sừng sững trên những thuở ruộng bằng phẳng. Nhất là đối với những dân quê cả đời chẳng ra khỏi khóm tre làng hay con đê quanh làng, khi có dịp đi ngang qua Đông Triều chắc chắn núi đá sẽ tạo ấn tượng rất khó quên. Và ấn tượng này được ghi nhận vào trong câu ca dao truyền lại hoài. Câu ca dao này chợt nảy ra trong đầu tôi khi xe đi ngang qua Đông Triều nhưng tôi chỉ nhớ đuợc có một câu ‘để anh gánh đá Đông Triều về ngâm’ mà không nhớ hết toàn bài ngay lúc đó. Sở dĩ tôi không nhớ ngay ra được trọn bài ca dao vì có lẽ đã lâu lắm rồi tôi không còn được nghe ai hát ru con hay ru em nữa. Tôi nhớ bài ca dao này vì tôi được nghe đi nghe lại rất nhiều lần từ lúc còn bé, qua những lời ru của các bà mẹ trẻ và các chị gái hát khi đong đưa chiếc võng ru con hay ru em ngủ.

Chuyến về Bắc vừa rồi để lại trong tôi những xúc động sâu xa vì được trở về cái nôi, cái gốc của mình. Tôi đuợc sinh ra ở Quảng Nam và cả tuổi thơ tôi sống ở Dục Mỹ, Khánh Hòa. Sau này lớn lên ở Miền Nam. Nhưng tôi nuôi dưỡng trong gia đình gốc Bắc. Cha mẹ tôi rời nơi chôn nhau cắt rốn di cư vào trong Nam nhưng họ mang theo họ những phong tục tập quán cả ngàn năm của Đồng bằng sông Hồng trong đó có những câu hát ru con tuyệt vời. Tôi thuộc rất nhiều bài hát ru em từ khi còn nhỏ vì tôi được nghe chị tôi hát hoài trong suốt thời thơ ấu. Và chắc chắn từ khi tôi còn nằm trong nôi tôi cũng đã được ru ngủ với nhũng câu ca dao tuyệt vời này. Những bài hát của tôi có lẽ chịu ảnh hưởng rất lớn của những lời ru đó chăng?

Lời ru của những bà mẹ gốc Bắc tôi được nghe hoài. Mãi sau này khi tôi sống thực sự ở vùng sông nước Cửu Long, tôi mới được nghe lời ru con của các bà mẹ miền Nam. Trong nhiều lần đó thì có hai lần tôi thật sự xúc động dù lời ru rất quen thuộc.

Lần đầu xảy ra vào thời gian sau biến cố tháng tư năm 75. Lúc đó số phận anh em tụi mình như cánh lục bình trôi sông chẳng biết đi về đâu. Thành, Ngọ, và tôi nằm tại nhà trong thời gian đó. Chắc Thành, Ngọ vẫn nhớ những buổi tối ba anh em mình và Phạm Văn Tiến ‘gác’ Domino suốt đêm, rồi lăn ra giường ngủ chung với nhau. Sáng dậy trễ được đãi ăn cơm chung tại chỗ rồi mới giải tán. Cha cố Hưng giao việc cho cả ba, nhưng tôi lãnh nhiều việc nhất. Một trong những việc được giao là dạy giáo lý cho các em trong Bờ Bao. Tôi lội bộ khoảng 4 cây số từ nhà tới nhà nguyện cất tạm trên đất do một giáo dân hiến tặng. Và vào một chiều mưa lất phất trên đường Bờ Bao, tôi nghe vẳng vẳng lời ru thật trong và thật ngọt ngào “ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi…”. Lời ru này nghe đã nhiều lần, nhưng trong khung cảnh của buổi chiều ấy, nó gợi lên bao nhiêu mênh mông những buổi chiều của những di dân đầu tiên đi khai phá đất hoang. Nó nhắc nhở đến công trình khó nhọc phải ‘bắc những nhịp cầu’ của những di dân đầu tiên ấy, để giờ đây con cháu họ là chúng ta mới được hưởng phần đất màu mỡ do công lao khai phá của họ. Chỉ một câu hát ru quen thuộc, sao bỗng làm nổi sóng trong lòng đến như vậy!

Lần thứ hai mà lời ru làm tôi nôn nao là lần tôi nằm trong ‘nhà ếm’ chuẩn bị xuống ‘tắc xi’ ra tàu lớn trong chuyến vượt biên lần thứ ba. Chuyến đó tôi được đưa từ Rạch Sỏi bằng ghe xuống vùng An Biên phía giáp biển, lúc ban ngày, như người đi thăm bà con. Bốn người chung một chuyến ghe. Nhà ếm nằm trên bờ một con kinh nhỏ tôi không biết tên. Đêm đó chủ nhà mở tiệc nhậu làm như đãi khách xa. Họ có mời tôi nhạu chung, nhưng tôi hơi ngán bị xỉn lỡ có chuyện gì xảy ra không xoay sở được nên tôi từ chối. Nằm trong buồng tôi mơ màng thiếp đi một lúc chợi giật mình thức giấc vì một giọng ru con thật hay. Và cũng là lời hát ru quen thuộc ‘gió đưa cây cải về trời, răm rau ở lại chịu lời đắng cay…’. Lời ru thật thấm thía trong hoàn cảnh lúc đó. Tôi biết chủ nhà ếm sẽ là tài công đưa chúng tôi đi chuyến đó. Và người vợ trẻ của anh ta sẽ ở lại. Lời ru đó văng vẳng như lời trách móc nhẹ nhàng của người vợ trẻ với người chồng sắp đi xa. Ôi sao nghe mà thấm thía đến thế!

Chuyến đó tôi bị công an tóm khi chiếc ghe đang trên đường ra ngoài sông lớn, nhưng may mắn tôi chạy thoát và về đến nhà bình yên. Sau này tôi nghe nói anh chồng của chị ta bị công an bắt vì tội tổ chức đưa người vượt biên. Không biết chị ta có mừng vì chồng bị bắt không vì dù bị ở tù anh ta cũng vẫn còn ở gần nhà chứ không ở xa tít mù khơi nếu chuyến đó chúng tôi đi thoát. Không biết số phận họ bây giờ ra sao?

Thật tiếc vì bây giờ không còn nghe ai hát ru con nữa. Những bài hát ru là những tâm tình của bao thế hệ cha ông gởi gấm lại cho con cháu. Đó cũng là những bài dân ca phong phú được truyền lại cho chúng ta từ bao đời trước. Dân Việt lúc trước không có phương pháp ký âm nên dân ca và dân nhạc chỉ được truyền lại bằng miệng. Và phương pháp tốt nhất để phổ biến là dạy cho các bà mẹ tương lai những bài hát ru em. Những bài hát ru này theo đoàn di dân khi khắp nơi, và cũng dần dần thay đổi và phát triển tùy theo khí hậu và phong tục tập quán của những vùng đất mới. Không còn ai hát ru con hay ru em, có nghĩa là một hai thế hệ nữa, dân nhạc và dân ca chúng ta sẽ mai một. Nhất là những thế hệ trẻ bây giờ chuộng những giai điệu Âu Mỹ hơn là muốn nghe những giai điệu quê hương. Chúng ta phải làm gì để giữ lại một gia tài quý giá mà cha ông ta đã bao đời gìn giữ và vun xới?

Thân ái,
Nguyễn Mộng Huỳnh.

GIAI ĐIỆU QUÊ HƯƠNG