
Tôi nghĩ rằng người bạn tôi cũng không ngoại lệ. Chắc chắn anh đã phải chiến đấu với chính bản thân anh rất nhiều trong suốt thời gian 38 năm qua - nhất là thời gian sau này - để giữ vững được lý tưởng. Có thể nói, với ý chí kiên cường anh đã chiến thắng trận chiến kéo dài 38 năm, giờ đây anh có quyền hãnh diện và hiên ngang „bước lên bàn thánh“ dù phải „lom khom“ với mái tóc không còn xanh như ngày nào mà rất có thể „muối đã nhiều hơn tiêu“ do sự vụng về của tạo hoá ở lứa tuổi ngũ tuần.
Tôi biết dù phải „lom khom“ nhưng chắc chắn anh sẽ hân hoan bước những bước thật vững mạnh tiến lên bàn thánh để lãnh nhận ấn tín của Chúa như một „sự vụ lệnh“để thi hành một sứ vụ mới, khởi sự một cuộc hành trình mới mà những khó khăn mới, gánh nặng mới đòi hỏi sự phấn đấu mới đang chờ đợi. Nghĩa là, trận chiến mà anh phải đương đầu chưa phải là kết thúc, anh chỉ mới qua được một giai đoạn „thử lửa“, tuy rằng giai đoạn „thử lửa“ có thể đã dài hơn giai đoạn mà anh sẽ phải chiến đấu sau này.
Tôi thán phục ý chí của anh, tôi ngưỡng mộ sự can đảm và sức phấn đấu của anh, và tôi vui mừng, hãnh diện vì anh. Ý chí phấn đấu của anh đã đánh tan những ý tưởng non nớt mà chúng tôi đã có về anh, thuở chúng tôi còn chung sống dưới mái nhà „Á Thánh Phụng“.
Ngày đó, người bạn Lê Quan Trung đã được chúng tôi tặng cho một „biệt danh“ là „ma soeur“. Tôi quả thực không còn nhớ nguyên do nào mà chúng tôi đã đặt cho anh cái „biệt danh“ đầy nữ tính đó. Rất có thể do bản tính hiền hoà, thật thà và có lẽ có phần hay e thẹn của anh. 30 năm rồi tôi chưa gặp lại anh, không biết cái đặc tính „ma soeur“ có còn tồn tại trong con người anh không. Tôi thiết nghĩ đặc tính ấy khó thay đổi, nhưng chắc chắn nó không còn „yểu điệu“ như „ma soeur“ của 38 năm về trước. Vì ý chí phấn đấu của anh đã chứng minh điều đó.
Dẫu sao Thiên Chúa rất muốn dùng đặc tính „ma soeur“ trong con người anh làm khí cụ rất khả dụng cho những công việc của Ngài. Chính vì thế, người bạn với biệt danh „ma soeur“ đã được Thiên Chúa tuyển dụng cho một sứ vụ cao cả là „đem Tin Mừng cho kẻ nghèo khó“.
Tôi hy vọng anh sẽ trở thành một „vị mục tử tốt lành“ và một chứng tá đầy can đảm giữa xã hội đầy phức tạp và tục hoá ngày nay vì Thiên chúa luôn chúc phúc cho kẻ Người đã tuyển chọn.
Với những dòng chữ đơn sơ ngắn gọn này, tôi hân hoan chúc mừng người bạn cuối cùng trong lớp đã đạt được lý tưởng. Niềm vui này chắc chắn không chỉ riêng mình anh, mà chắc chắn những người thân trong gia đình anh cũng vui mừng không kém, họ đã mong chờ nhiều năm tháng để có được vinh dự ngày hôm nay. Vì thế, tôi cũng muốn chúc mừng và chia sẻ niềm vui lớn lao này với song thân của anh, nhưng rất tiếc song thân của anh không còn để cùng chia sẻ hạnh phúc với anh. Tôi xin chúc mừng tất cả những người thân đang đón nhận hạnh phúc và vinh dự với anh.
Trong tâm tình hiệp thông, chúng tôi, 119 người bạn trong số 120, cũng như mọi thành phần trong gia đình Maximilien Kolbe ngày nay rất hoan hỉ chia sẻ niềm vui trọng đại với anh và sẽ cùng hiệp ý cảm tạ Thiên Chúa trong ngày 18-05-2006, ngày anh „lom khom“ bước lên bàn thánh.
Cuối cùng, tôi cầu chúc anh luôn giữ được lòng can đảm, tinh thần hăng say và tìm được niềm vui trong chức vụ linh mục. Tôi cầu chúc anh luôn được Chúa Giêsu cùng đồng hành để thêm sức và nâng đỡ anh trong cuộc hành trình sắp tới.
Tháng 05/2006
Đỗ Văn Thục
Từ ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau trong ngôi nhà mang tên „Chủng viện Á Thánh Phụng“ đến nay đã xấp xỉ 38 năm tròn. Ngày ấy, chúng tôi, 120 mái đầu xanh đã sớm lìa bỏ gia đình để cùng chung một cuộc sống : cùng ăn, cùng ngủ, cùng học, cùng chơi v.v... dưới một mái nhà. Bởi vì, ngày ấy chúng tôi đã cùng có chung một lý tưởng là trở thành môn đệ của Chúa Giêsu trong thiên chức Linh Mục.
Nhưng rồi, suốt 38 năm qua không gian và thời gian đã biến đổi với biết bao thăng trầm liên quan tới cá nhân, gia đình, xã hội ..., phần nhiều trong số 120 chúng tôi đã rẽ sang một con đường khác, đi theo một lý tưởng khác. Chỉ còn rất ít trong số 120 đã lần lượt từng nơi, từng lúc đạt được lý tưởng lúc ban đầu.
Và người bạn cuối cùng - trong số 120 - của chúng tôi đang chuẩn bị bước lên bàn thánh để lãnh nhận thiên chức Linh Mục mà anh đã theo đuổi suốt 38 năm trường. Để đạt tới đích điểm này, chắc chắn anh đã phải phấn đấu rất gay go. Trận chiến khó thành công nhất, đó là chiến đấu với chính bản thân mình. Những trở ngại bên ngoài luôn tăng cường áp lực lên những thao thức tận bên trong để quật ngã những người mà ý chí chiến đấu không đủ mạnh.