%@LANGUAGE="JAVASCRIPT" CODEPAGE="CP_ACP"%>
Đức Hồng Y Sepe là một khuôn mặt quen thuộc và khả ái đối với giáo dân Việt Nam. Vào cuối năm ngoái, từ 28 tháng 12 đến 2 tháng 12, 2005, trong chức vụ Bộ trưởng Bộ Truyền Giáo, Ngài đã đến Việt Nam thăm mục vụ ba Tổng giáo phận Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Tại Hà Nội ngài đã cử hành lễ phong chức linh mục cho 57 đại chủng sinh của các giáo phận miền Bắc. Ngày 20 tháng Năm 2006 ngài được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Tổng giám mục giáo phận Naples (Napoli)(*). Ngài đã đến nhận nhiệm sở ngày 1 tháng Bảy vừa qua. Chúng ta hãy nghe tâm sự của ngài trong hai tháng nhận chức vụ mới, được ghi lại trong báo L’Espresso.
Dưới triều Đức Gioan Phaolô II, Đức Hồng Y Crescenzio Sepe là một nhân vật uy thế trong giáo triều Vatican. Trước hết ngài làm thẩm định viên tại Bộ Ngoai Giao Toà Thánh, rồi làm chưởng nghi các buổi lễ đại trào, và cuối cùng được vinh thăng hồng y và làm “giáo hoàng đỏ”, chức vụ mà người ta thường gọi vị Bộ trưởng Thánh Bộ Tin Mừng Hóa các Dân Tộc, có uy quyền trên cả ngàn giáo phận tại Châu Á và nam Bán Cầu.
Nếu một vị là người Mỹ La tinh được bầu làm Giáo Hoàng thì nhiều người cho rằng vị trí của ĐHY Sepe sẽ tiến cao hơn, chẳng hạn làm Bộ trưởng Ngọai Giao và giữ chức vụ cao thứ hai trên Giáo Hội hoàn vũ. Nhưng Đức Bênêđictô XVI lại có những cách sắp đặt riêng của ngài. Ngài chỉ định Đức Sepe trở lại nơi mà ngài đã sinh ra tại đó 63 năm trước, dãy núi Vesuvius. Hai tháng qua, ngài nắm giữ chức vụ Tổng giám mục Naples.
Hỏi: Thưa ĐHY Sepe, tại Rôma, nhiệm
vụ của ngài trải rộng khắp hoàn vũ, giờ đây đảm nhận chỉ có một thành phố,
ngài có coi là qúa nhỏ?
ĐHY Sepe: Không hề như thế. “Cái toàn thể ở trong một phần”, nhà thần học
thời danh Hans Urs von Balthasar đã nói như thế trong một cuốn sách nổi
tiếng của ngài. Mỗi giáo phận trên thế giới đều thuộc về xứ truyền giáo,
đều phải được rao giảng và tái truyền giảng Tin Mừng. Và điều này cũng đúng
cho Naples một cách riêng.
H: Ngài có ý nói tới băng nhóm mafia,
những băng đảng thiếu niên, và tội phạm lan rộng ở đây?
ĐHY: Dù điều này đã quá đủ để liệt kê Naples như là một sào huyệt. Đó là
một thành phố đồi bại kinh khủng. Nhưng điều tệ hại hơn nữa là các công
dân không có một lương tâm đủ mạnh để đương đầu với sự suy đồi này. Đức
Gioan Phaolô II đã có lí khi viếng thăm đây, ngài đã tố giác sự thiếu vắng
một nền văn hóa pháp lí. Giới trẻ lớn lên mà không có được một sự giáo dục
thích đáng. Thay vì đề cao những người làm điều thiện, người ta lại
cấu kết để làm điều ác.
H: Có phải đó là điều mà Đức Karol
Wojtyla gọi là “tội xã hội” ?
ĐHY: Khi những hành vi xấu trở nên thâm căn cố đế, chúng biến thành những
cơ cấu tội phạm, định ra một lối sống phản lại một xã hội chân chính. Chỉ
có một con đường để lật lại tình trạng này: đó là thức tỉnh lại các lương
tâm để cho mỗi cá nhân có thể trở thành tác nhân của sự giải phóng cho chính
mình.
H: Ngài có kì vọng điều này từ phía
chính quyền?
ĐHY: Mỗi người phải cố gắng, riêng phần mình phải tự cố gắng. Như tôi, trong
vai trò giám mục trách nhiệm của tôi là rao giảng Tin Mừng, nhưng đức tin
không phải là vấn đề thuần túy cá nhân. Đức tin chỉ chính thực nếu nó xây
dựng trên một nhân cách hoàn chỉnh và nhập thể vào đời sống xã hội. Và khi
nhìn thấy sự nhơ bẩn làm biến dạng khuôn mặt thành phố thì tự nhiên tôi
phải rao giảng rằng con người không thể trong sạch phần nội tâm nếu bên
ngoài họ sống ô uế.
H.: Nhưng ngài có thấy những yếu
tố tích cực được ghi nhận tại thành phố này?
ĐHY. Đương nhiên là có, và tôi tiếp chạm với nó hằng ngày. Trước hết là
người dân Napôli có một cảm thức mạnh về linh thánh. Nền đạo đức bình dân
rất sống động, nó lôi cuốn cả những người ít đi dự lễ. Bất cứ tôi đi đâu
– đến Sanità, đến Carmine, đến những nơi nghèo nàn nhất – dân chúng đều
tiếp đón tôi với lòng qúy mến đặc biệt. Họ đốt pháo, họ hô to tên tôi, họ
cầu khẩn Mẹ Maria: “A Madonna c’accumpagna!” Ý thức về gia đình cũng rất
cao. Đau khổ và niềm vui của mỗi gia đình đều có dính dáng đến niềm vui
và đau khổ vì băng nhóm. Người dân Nêapôli rất hiếu khách. Dân nhập cư –
Trung Hoa, Philippin, Châu Phi, Ba Lan – đều được tiếp đón mặn nồng. Đây
là thửa đất tốt cho chúng tôi làm việc để phát sinh lúa mì chứ không phải
cỏ dại.
H.: Vào ngày ĐHY nhậm chức tại Naples,
1 tháng Bảy, ngài đã hôn đất ở Scampia, nơi mà ma túy và băng nhóm lộng
hành vào bậc nhất. Tại sao?
ĐHY. Tôi chưa có một chương trình hành động, nhưng tôi muốn gửi đi một vài
tín hiệu qua cử chỉ đầu tiên của tôi. Như người Samari Nhân Hậu, tôi cúi
xuống để băng bó thành phố bị thương tật. Ở Scampia chén thánh ở trong nhà
thờ bị lấy cắp, tôi phải mang đến một chén mới. Giáo dân thì không có mục
tử chăm sóc, tôi phải mau chóng gửi hai linh mục trẻ đến. Ngày hôm sau khi
đến nhận giáo phận, tôi đến bệnh viện Santobono để thăm các em nhỏ bị bệnh.
Rồi đi thăm những tù nhân ở Poggioreale. Chỗ tôi ở gần những người đau khổ,
những người bị bỏ rơi, những người nghèo khổ. Họ không chờ tôi những lời
nói suông, nhưng những hành động cụ thể.
H.: Ngài có cảm thấy cô đơn?
ĐHY: Trái lại. Tôi có những linh mục và giáo dân xuất sắc trong giáo phận,
họ là nguồn giúp đỡ lớn lao của tôi. Có cả ngàn linh mục mà tôi sẽ lần lượt
gặp riêng từng vị – những vị đau ốm thì tôi đến gặp tại nhà- và tôi nhận
thấy phần lớn các linh mục có đời sống thiêng liêng sâu xa, đựơc đào tạo
tốt, và sẵn sàng cộng tác với gíam mục của các ngài. Vào ngày lễ Vọng Đức
Mẹ Hồn Xác Lên Trời, tôi mời các linh mục đến đồng tế tại nhà thờ chính
toà: tưởng chỉ được một số ít, nhưng có đến gần ba trăm vị đến dự. Tôi sẽ
thảo luận và quyết định một vài chương trình làm việc với các linh mục.
Đối với các vị lớn tuổi, tôi đã chọn một tu viện cổ vẫn bỏ trống, chỉnh
trang lại thành một nơi đẹp đẽ và xứng đáng nhất để các ngài an dưỡng. Các
ngài xứng đáng hưởng như vậy vì đã suốt đời phục vụ Giáo Hội. Dĩ nhiên,
tôi còn cần thêm các linh mục. Tôi xác quyết là cần phải gia tăng sự quan
tâm đến ơn gọi, bắt đầu ngay từ lứa tuổi trung học.
H. : Giữa khi các giáo phận khác
đang đóng cửa các tiểu chủng viện?
ĐHY: Tôi sẽ cố gắng để không hành động như thế! Không hệ gì nếu nhiều tiểu
chủng sinh trong tiểu chủng viện ở Naples không đạt đến chức linh mục. Vì
dù sao chúng tôi cũng đã đào tạo nên những công dân tốt.
H: Còn giáo dân thì ngài thấy thế
nào?
ĐHY: Đây cũng lại là điều đáng ngạc nhiên khi tôi nhìn thấy một sức sức
sống phong phú: Ở Naples các loại hình hội đoàn và các phong trào đều đang
hoạt động tốt: Công Giáo Tiến Hành, ACLI, Hướng Đạo, Communio et Liberatio,
Focolare, Canh Tân Đặc Sủng… Tất cả đều hài hoà với các xứ đạo.
H: Còn các tân tòng, có các Thánh
Lễ riêng, cũng tốt đẹp?
ĐHY: Có một vài va chạm đây đó xảy ra đối với họ. Nhưng điều làm tôi ngạc
nhiên nhất, đang theo một hướng tốt, đó là hầu hết giáo dân đều thực sự
dấn thân vào một trận chiến đòi hỏi can đảm để chống lại những tệ nạn, từ
ma tuý, băng đảng, cho đến bệnh AIDS.
H. Ngài nghĩ thế nào để thực hiện
ở Naples những kinh nghiệm mà ngài đã tích góp được tại Vatican với vai
trò điều hành các biến cố lớn?
ĐHY: Một số giáo dân ngỏ với tôi rằng cần phải hành động nhiều hơn nữa để
căn tính Công Giáo không cứ mãi ẩn khuất, mà phải công khai phát huy. Và
tôi đáp lại rằng, được, cứ lấy mô hình Ngày Giới Trẻ được tổ chức trong
Năm Thánh 2000 để áp dụng vào Naples. Người dân Napôli rất muốn dựa theo
những gì đưa ra làm mẫu, dù tốt hoặc xấu.
H: Tại Vatican, ngài cũng là một
giám sát viên về thông tin. Ngài là một người đã đề bạt Joaquín Navarro-Valls
vào chức vụ của ông, rồi tiến cử Mario Agnes làm giám đốc “Osservatore Romano”.
Ngài sẽ làm gì ở Naples?
ĐHY: Tôi sẽ đặc biệt quan tâm đến truyền thông, là thiết yếu cho việc truyền
đạt Tin Mừng. Giáo phận có một tờ tuần tin tức, “Nuova Stagione” (Mùa Mới),
và một tờ nguyệt san văn hóa, “Januarius”: tôi muốn củng cố thêm để phát
hành cả hai. Giáo phận không còn đài phát thanh nữa, và chưa có đài truyền
hình: chúng tôi sẽ xem xét thêm. Và trong thời gian này, riêng tôi muốn
tạo một chút ngạc nhiên. Vào dịp trước lễ thánh Gianuariô, ngày 19 tháng
9, tôi sẽ cho phổ biến một cuốn sách nhỏ của tôi, được viết bằng một lối
văn đơn giản và gần gũi.
H: Chủ đề là gì ạ?
ĐHY: Màu đỏ của máu, của sự sống, và của hi vọng…Nhưng đó là tôi nói một
cách tổng quát.
H: Kính thưa ĐHY, tại Vatican ngài
có nhiều bạn hữu, nhưng cũng lắm kẻ thù…
ĐHY: Xin dừng lại – kẻ thù, không! Có những người khác quan điểm với tôi.
H: Ngài sinh hoạt thế nào với Đức
Joseph Ratzinger khi còn là một Hồng Y?
ĐHY: Tôi cũng là một thành viên trong Bộ Giáo Lí Đức Tin do Đức Ratzinger
làm Bộ trưởng, và tôi gặp ngài mỗi “feria quarta,” hay Thứ Tư. Khi còn giữ
chức Bô trưởng Bộ Loan Tin Mừng cho các Dân Tộc, tôi xin phép ngài triệu
tập các giám mục mới tấn phong từ các xứ truyền giáo về Rôma dự các khóa
học hỏi.
H: Và sau khi Đức Ratzinger lên vị
Giáo Hoàng Bênêđictô XVI?
ĐHY: Ngài vẫn luôn tỏ ra là một nhân vật kiệt xuất, với một tầm nhìn thấu
đáo về triết học và thần học.
H: Vậy đâu là ảnh hưởng cho Naples
với một vị Giáo hoàng là một nhà tư tưởng sâu sắc như thế?
ĐHY: Thật ý nghĩa. Người dân Napôli tán dương sự trong sáng mà Đức Bênêđictô
XVI trổi vượt. Họ nhận ngay ra rằng ngài không kể những chuyện thần tiên,
nhưng làm chứng cho sự thật; và chính vì điểm này mà họ quý mến ngài.
H: Từ giáo triều Vatican, nay ngài
chuyển về Hội Đồng Giám Mục Ý (CEI). Đối với các vị Ruini, Martini, Tettamanzi,
ai là người ngài thấy thân cận nhất?
ĐHY: Tôi nhận thực cả ba vị đều là cố vấn của tôi, tôi học hỏi được rất
nhiều từ nơi mỗi vị đã dành cho tôi.
H: Vậy điều đáng giá nhất ở nơi Đức
Camillo Ruini?
ĐHY: Khả năng bén nhạy của ngài trong việc phân tích xã hội đương đại. Ngài
có khả năng thích ứng đối với các vấn đề liên tục xuất hiện.
H: Còn Đức Carlo Maria Martini?
ĐHY: Đặc sủng của một bậc thầy về linh đạo. Sách của ngài được rất nhiều
người đọc và nghiền ngẫm.
H: Về Đức Dionigi Tettamanzi?
ĐHY: Khả năng của ngài về học thuyết luân lí, tính mực thước và thực tế
trong hành động.
H: Đức Ruini và CEI đã nhiều năm
nhấn mạnh về điều mà các ngài gọi là “dự phóng văn hóa dựa trên Kitô giáo”.
Kết qủa là thế nào?
ĐHY: Khá tốt, cứ xét hệ qủa của cuộc trưng cầu dân ý năm 2005 về thụ sinh
nhân tạo. Nếu không có dự phóng văn hoá, làm sao chúng ta đạt được kết qủa
đó. Đức Ruini không xây dựng Giáo Hội Ý trở thành một nền móng về tổ chức
cho bằng một nền móng về văn hóa Kitô giáo.
H: Ngài đánh giá thế nào về những
thử nghiệm của Đức Hồng Y Martini trong việc đối thoại với tư tưởng thế
tục, đặc biệt những vấn đề về sự sống trước khi sinh và chết êm dịu?
ĐHY: Đối thoại quan trọng và cần thiết đối với Giáo Hội, như Đức Giáo Hoàng
Phaolô VI đã trình bày trong Thông điệp Ecclesiam Suam. Nhưng điều đó không
có nghĩa là “đối thoại chỉ để đối thoại”. Nó cần phải hướng tới chân lí.
Giáo Hội không thể phủ nhận sự thật xuất phát từ Chúa Kitô và được ghi khắc
trong tạo vật. Cần phải biết rằng sự thật bất biến đó không chỉ bao hàm
những người Kitô giáo, mà hết mọi người.
H: Ngài không nghĩ rằng thái độ khư
khư của Đức Thánh Cha và CEI về những vấn đề luân lí sinh học chẳng ăn nhập
gì trước những vấn đề đời thường của người dân Naples sao?
ĐHY: Trái lại; nó có một ảnh hưởng trực tiếp. Việc kiên định bảo vệ sự sống
đích thực là điều mà mọi người đều cần nhất. Những áp lực đối kháng của
xã hội trần tục càng là lí do để Giáo Hội mạnh mẽ lên tiếng công khai và
đưa ra những hướng dẫn cho các mục tử của mình.
(*) Một vài con số thống kê về Tổng giáo phận Naples, theo tài liệu năm 2004:
- 1,600.000 giáo dân trong tổng số
dân 1,608.000 . 99,5 % công giáo.
- 287 giáo xứ.
- Linh mục triều: 453; linh mục dòng: 550. Trung bình mỗi linh mục phụ trách
1,595 giáo dân.
- 214 phó tế vĩnh viễn. - Nam tu sĩ: 716; nữ tu: 2,300.
Linh mục Giuse Ngô Quang Trung