Tôi bước ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất lúc 8 giờ tối ngày 7 tháng 6, trễ hơn một tiếng đồng hồ vì máy bay khởi hành trễ ở phi trường Kuala Lumpur. Ra đến cửa trong số những người ra đón tôi ngoài các anh chị em còn có bạn Thành (đầu dế) cùng lớp cười rung rinh hai hàng ria mép muối tiêu đón mừng tôi nữa. Đại gia cũng ra đón nhưng vì máy bay đến trễ nên hắn phải chuồn trước vì có hẹn.
Tối hôm sau, Thành, Đại, và tôi ra đón Đỗ Vạn Thuý cũng tại cổng chờ mà hai tên này đón tôi chiều hôm trước. Có đến hơn chục năm hai đứa tôi không gặp nhau kể từ ngày gặp lại lần đầu tiên tại Houston, khi tôi đến đồng tế lễ tạ ơn của cha Nguyễn Hùng Cường ở đó (1997). Lần đó tôi cũng gặp được Nguyễn Thành Nguyên nữa. Từ sau năm 75 khi chủng viện giải tán, đó là lần đầu tiên chúng tôi gặp lại nhau. Ly hương ngộ cố tri. Ngày đó xa quê gặp lại bạn học thật vui. Hôm nay, bất ngờ lại gặp nhau, nhưng không phải ở nơi xa mà là gặp lại nhau tại ngay đất Sàigòn. ‘Chúa thường ban những ơn huệ không ngờ’.
Tôi về Việtnam kỳ này là để tham dự lễ truyền chức linh mục của cha cháu thuộc điạ phận Long Xuyên. Nên sau hai ngày lo một số việc riêng, tôi và các anh chị em của tôi đi chung một chuyến xe về kênh 8 để hôm sau lên Long Xuyên dự lễ.
Đoạn đường từ Sàigòn đến Trung Lương là đoạn đường cao tốc xẻ ngang các thửa ruộng. Đường mới khánh thành nên còn khá êm và hai bên đường không thấy có nhà cửa như tất cả những con đường ở Việtnam. Qua khỏi đường cao tốc chúng tôi dừng lại ăn trưa ở nhà xuôi gia của cô cháu gái ( con bà chị cả) và được đãi một bữa cơm thật thịnh soạn với những món ăn đặc sản của vùng Cailậy- Cáibè.
Sau cơm trưa chúng tôi trực chỉ đường về Cầnthơ để được xem cây cầu mới khánh thành. Cầu Cầnthơ là cầu giây văng được coi là dài nhất vùng Đông Nam Á. Cầu này do Nhật viện trợ và thiết kế. Tôi thấy tuy nó dài hơn Cầu Mỹ Thuận nhưng chỉ dài hơn ở hai đoạn nối hai đầu cầu thôi, chứ phần giây văng thì cũng bằng nhau, nhưng phần mỹ thuật lại không đẹp bằng.
Đường dẫn vào đầu cầu ở hai phiá tránh vào thị trấn và thành phố nên không bị kẹt xe. Và đường từ cuối chân cầu nối vào đường về Lộ-Tẻ là con đường mới song song với đường cũ cách khoảng 2 cây số phiá trong ruộng nên cũng không bị kẹt xe như trước. Tôi nghe nói chính quyền sẽ làm đường cao tốc Cầnthơ - Rạchgiá nối với con đường này. Nếu làm xong thì tương lai thời gian di chuyển bằng đường bộ từ Sàigòn về Rạchgiá sẽ rút ngắn rất nhiều. Nhưng hiện tại đoạn đường từ Lộ-Tẻ về Rạchgiá vẫn nhỏ hẹp và gồ ghề cũng như dân cư sống buôn bán dọc hai bên đường nên xe đi chậm và rất dễ gặp tai nạn.
Tôi về đến nhà cô em Út tại số 6 (gần
chợ K.8) lúc 5 giờ chiều. Rất may năm nay mùa hè vùng Cáisắn không nhiều muỗi
như mọi năm nên không phải ngồi trong mùng nói chuyện. Bầu khí của ‘World
Cup’ ở vùng quê cũng sôi động không kém ở các đô thị. Ở đâu cũng thấy bàn
tán về các đội banh và cá độ sôi nổi.
Sau một ngày nghỉ ngơi, sáng thứ Sáu ngày 11 tháng 6 tôi và các cô em lên
Long Xuyên dự lễ truyền chức. Vì có 8 phó tế sẽ được truyền chức nên mỗi gia
đình chỉ được mời một số khách tham dự giới hạn. Tôi tới trễ nên không có
dịp gặp các cha trước lễ. Vì có tuần thường huấn trước đó nên thánh lễ truyền
chức hôm nay hầu như có mặt tất cả các linh mục của điạ phận. Có một số vị
tôi nhận ra, còn đa số tôi không nhận ra. Ngay cả cha cựu giám đốc Lê Văn
Quan, khi ngồi phiá dưới nhìn lên tôi phải mất một lúc khá lâu mới nhận ra
ngài. Sở dĩ tôi khó nhận ra ngài vì đã 35 năm từ khi rời chúng Viện Têrêxa
Rạchgiá đến hôm nay mới trông thấy ngài. Bây giờ ngài đã tóc bạc da mồi và
đã mất hết vẻ linh hoạt của thời làm giám đốc chủng viện.
Nhìn lên bàn thờ hôm đó tôi chợt nhận ra hiện tại các lớp linh mục của thời anh em mình đã bắt đầu thay thế các lớp đàn anh trong những vai trò lãnh đạo trong điạ phận. Và tôi nghĩ không bao lâu nữa một trong số những anh em này sẽ là người cai quản điạ phận. Tre già măng mọc là quy luật muôn đời.
Vì đi với gia đình bằng xe nhà nên tôi không trở vào Tòa Giám Mục để dự tiếp tân. Bây giờ muốn qua Tòa Giám Mục lại phải vòng qua đường bờ sông chứ không thể băng ngang qua lối chủng viện cũ nữa vì nhà nước đã trưng dụng toà nhà này. Hơi rắc rối nên mấy anh em cậu cháu tôi ra quán ăn cơm xong là về thẳng nhà.
Sáng hôm sau tôi vào Kênh 7 dự lễ mở tay của một trong 8 tân chức, là tân linh mục Giuse Nguyễn Trí Diễm, cháu gọi tôi bằng cậu và là cháu ruột của cha Nguyễn Hùng Cường, M.M (Lớp 71). Trong dịp này tôi được ngồi nói chuyện với Đức Cha Giuse trước và sau thánh lễ. Lần đầu tiên được trò chuyện với ngài tôi nhận ra ngài là người hiền hậu, nhỏ nhẹ, và dễ gần. Tuy mới cai quản điạ phận mấy năm nay, ngài đã mang đến một sinh khí mới và cũng đã làm được một số thay đổi quan trọng. Những thay đổi này không ồn ào nhưng âm thầm và nhẹ nhàng kín đáo như cá tính của ngài. Nói chuyện với một số linh mục trẻ sau khi đức cha rời bàn tiệc ra về tôi thấy họ rất ‘chịu’ ngài vì theo họ ngài dễ gần và rất thân thiện.
Sau khi tiệc tàn, cha sở xứ Giuse Kênh 7, cha ‘Giặc’ Thịnh, dẫn tôi đi tham quan những cơ sở do ngài thiết lập: trạm xá tình thương và viện mồ côi mới xây. Trạm xá tình thương được xây ở khu đất phiá sau nhà thờ và đã hoạt động được gần 30 năm nay. Còn viện mồ côi vừa mới xây xong ở miếng đất phiá bên kia sông đối diện với nhà thờ do một người Pháp tài trợ. Viện này dự trù sẽ khánh thành vào trung tuần tháng 9 năm nay và có thể nhận tối đa là 100 em.
Cha giáo Thịnh rất hãnh diện về trạm xá miễn phí của ngài vì là nơi duy nhất ở Việtnam quy tụ được các bác sĩ và đông y sĩ của các tôn giáo khác nhau cùng làm việc chung và chữa trị miễn phí cho các người nghèo. Không những chỉ chữa trị miễn phí mà bệnh xá này còn nuôi ăn cho khoảng 200 bệnh nhân mỗi ngày cùng thân nhân của họ nữa. Có nghiã là mỗi ngày phải nuôi ăn cho khoảng 400 người. Phần nhà bếp là do một gia đình Hòa Hảo trông coi. Họ ăn ở và làm việc ở dãy nhà bếp. Phần vụ của họ không chỉ là nấu ăn mà còn đi ra các chợ xin rau qủa về để tăng phần dinh dưỡng cho các bệnh nhân. Tôi nhìn thấy trong dãy nhà kho từng đống cà rốt, bí xanh, bí đỏ… mà các chợ dạt ra được họ mang về chất trong kho. ‘Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời’. Tuy họ thờ Đức Huỳnh Giáo Chủ, nhưng bằng cách họ sống và việc họ làm, chắc chắn họ cũng xứng đáng được gọi là môn đệ của Đức Kitô. Đường của họ đang đi đâu khác gì đường mà Ngài đã vạch ra phải không các bạn?
Sau lễ mở tay của cha Diễm, sáng hôm sau là sáng Chủ Nhật tôi được dự lễ tạ ơn của một tân chức khác tại nhà thờ Trung Thành (chợ Kênh 8). Tôi đã đi ngang qua nhà thờ này nhiều lần, nhưng hôm đó là lần đầu tiên tôi được đồng tế trong nhà thờ này. Cha xứ, đồng thời cũng là cha Quản Hạt Tân Hiệp, Cha Giuse Vũ Đức Thận, tu muộn nhập vào lớp Vô Nhiễm (Lớp 65). Xứ này là một trong những xứ ‘đường giàu’ vì dân xứ sống bằng nghề buôn bán, cũng như có thân nhân ở nước ngoài. Khuôn viên nhà thờ và nhà xứ rất rộng vì cha Thận mới cho thổi cát vào phiá sau nhà thờ nới rộng diện tích khu đất ra gấp đôi. Trong tương lai có nhiều dự án lớn sẽ được thực hiện trên mặt bằng này.
Sáng 14 tháng 6 tôi được mời đồng tế và giảng trong thánh lễ kỷ niệm 35 năm linh mục của cha Giuse Nguyễn Văn Đình, xứ Thánh Gia, Kênh Thày Ký, là giáo xứ gốc của tôi. Cha Đình thuộc lớp 61, là lớp đầu tiên của Chủng Viện Á Thánh Phụng, và là lớp linh mục đầu tiên hoàn toàn được huấn luyện từ Long Xuyên. Lớp này được truyền chức ngay sau 30 tháng 4 năm 1975 tại Sàigòn, và sau này bị coi là lớp được truyền chức ‘chui’ vì không xin phép nhà nước.
Lớp này có hai cha nổi tiếng là Nhạc Sĩ Văn Chi, và cha ‘Sáu Anh’. Cha Văn Chi thì ai cũng biết rồi. Còn cha Anh thì nổi tiếng vì bị ‘giam chức’ gần 30 năm mà vẫn kiên trì làm thày sáu chờ dài dài cho đến mới đây mới được Đức Cha Giuse truyền chức linh mục cho. Bây giờ ngài đang coi xứ ở trong Kênh 0 (phiá trong kênh ngang).
Dịp này tôi gặp được một nhân vật rất lạ là cha Antôn Nguyễn Thanh Minh, râu tóc đều dài và bạc trắng như cước. Trước đây tôi chưa bao giờ gặp ngài mà chỉ nghe nói tên thôi. Chỉ biết ngài coi giáo xứ Vàm Cống và làm tuyên úy quân đội. Sau 75 ngài đi cải tạo 13 năm mới được thả về nên lúc ngài về thì tôi đã có mặt tại Úc. Bây giờ tuy đã 86 tuổi, ngài vẫn còn khoẻ mạnh để ‘đi đánh mướn’ thay cho các cha xứ nào cần người dâng lễ và làm các bí tích để đi nghỉ dài ngày. Nói chuyện với ngài tôi hiểu lý do tại sao với ngần ấy tuổi ngài vẫn khoẻ mạnh và trông như tiên ông đạo cốt là vì ngài rất lạc quan yêu đời. Trải qua ngần ấy năm trong trại cải tạo và những năm khó khăn sau khi được thả mà vẫn giữ được phong thái an nhiên tự tại như vậy phải là người có một lòng đạo đức và một đời sống thánh thiện sâu xa, tôi chủ quan nghĩ vậy.
Sáng 16 tháng 6 tôi và một số anh em
lớp 68 vùng Cáisắn đi Gò Quao dự lễ kỷ niệm 10 năm linh mục của cha Hier.Nguyễn
Văn Ngọ. Cha Ngọ thay thế cha Chu Quang Tào làm cha sở Gò Quao được vài năm
thì cha giáo qua đời. Nhà thờ nhà xứ rất khang trang nhờ công sức cha Tào
bỏ ra xây dựng. Dù mang trong mình chứng bệnh ngặt nghèo, thay vì dùng tiền
các nơi gửi biếu để chữa bệnh, ngài dùng chúng để làm cầu đường, xây nhà thờ,
nhà xứ. Có lẽ ngài biết rõ bệnh ngài không thuốc chữa (vì ngài bị đầu độc
trong thời gian ở trong tù), do đó thay vì lo chữa bệnh thì ngài lo xây dựng
cơ sở cho một xứ vừa nghèo nhân lực lẫn nghèo tài lực. Cha Ngọ cho biết mỗi
tháng chỉ nhận được khoảng 12 ngàn đồng Việtnam tiền lễ của giáo dân xin.
Dân không đủ gạo ăn thì tiền đâu mà xin lễ!!
Tuy giáo xứ nghèo nhưng buổi lễ khá ‘to’ vì dân các nơi kéo về và gia đình
hùn tiền lo tổ chức buổi tiệc sau lễ.
Hôm dự tiệc sau lễ mở tay ở Kênh 7, tôi tình cờ nói chuyện với cha Cảnh, hiện đang làm phó xứ ở Anthới Phúquốc. Cha Cảnh mời tôi nếu có giờ nên ra Phú Quốc chơi cho biết. Lúc ấy tôi chưa có ý định đi, nhưng vẫn xin số điện thoại, để nếu muốn đi thì biết ai để liên lạc. Về nhà kể chuyện cho bà chị cả nghe, chị ấy nói cũng chưa bao giờ ra Phú Quốc, thế là tôi quyết định đi ra hòn đảo nổi danh này một chuyến cho biết. Tôi liên lạc với cha Cảnh và đặt hai vé máy bay khứ hồi Rạchgiá - Phúquốc.
Chỉ 25 phút bay từ phi trường Rạchsỏi tôi đã có mặt tại Phúquốc. Cha Cảnh đón tôi ở cửa phi trường và dắt tôi ra chiếc Taxi đặt sẵn, rồi đi dạy giáo lý. Phi trường nằm ở Dương Đông từ đó đến nhà xứ Anthới khoảng 30 cây số. Trước 75 Anthới là họ lẻ của Dương Đông. Nhưng sau 75 nhà thờ Dương Đông bị phá, nhà xứ bị chiếm hữu, cha xứ bị bắt, giấy tờ bị đốt sạch. Anthới nhờ còn giữ được nhà thờ và sổ sách nên sau này trở thành nhà xứ.
Cha sở Anthới chào đón tôi và bà chị với nụ cười tươi ơi là tươi. Tôi được thu xếp ở trong một phòng lớn ở dãy nhà mới xây, vì hôm đó có nhóm các sơ dòng Mến Thánh Giá Đàlạt cũng đang nghỉ tại nhà xứ nên chiếm hết các phòng ở tòa nhà chính.
Cha sở Gioan Trần Văn Trông là người gốc tại Anthới này. Năm 75 gia đình di tản hết, nhưng cha lúc đó là đại chủng sinh ở điạ phận Phanthiết đã kiên quyết ở lại không đi. Sau một thời gian lang thang đây đó, mãi đến năm 1986 mới được trở lại chủng viện Cáirăng, Cầnthơ học lại cùng các lớp đàn em, và được chịu chức năm 1994. Sau đó ngài trở về Phúquốc phục vụ và được bổ nhiệm làm cha xứ.
Nhà thờ Anthới mới xây lại và khánh thành vào trung tuần tháng 4 vừa qua. Nhà thờ rất đẹp và tọa lạc ở một điạ điểm thật nên thơ, trên một ngọn đồi nhìn xuống khu phố Anthới.
Anthới là cảng nằm ở cuối đảo Phúquốc. Dọc đường từ Dươngđông xuống Anthới, có nhiều bãi biển đẹp nhưng chưa được khai thác đúng mức cho du lịch. Và Phúquốc nói chung cũng chưa phát triển thực sự để trở nên nơi thu hút du khách. Khu phát triển nhiều nhất là thị trấn Dươngđông thì cơ sở hạ tầng tương đối tốt. Còn tất cả các nơi khác, đường xá rất tệ. Ngay tại Anthới ngoài con đường chính trải nhựa chỉ đủ cho một chiếc xe hơi đi, còn tất cả những con đường còn lại đều là đường đất đỏ, lầy lội khi mưa và bụi mù khi nắng.
Hôm sau, cha phó Hải Đăng dẫn tôi và chị cả tôi đi tham quan toàn đảo. Từ Anthới xe Taxi chở chúng tôi cặp theo bờ biển phiá tây của đảo. Bờ biển phiá này rất thẳng nhưng sóng rất lớn khi biển động. Có một số làng chài nhỏ ở rải rác hai bên đường. Chúng tôi dừng chân tham quan một cơ sở nuôi trồng ngọc trai. Nơi đây bày bán đủ mọi thứ sản phẩm mỹ nghệ làm từ con trai và những xâu ngọc trai đủ mọi loại với các bảng giá khác nhau từ một vài triệu đồng đến 148 triệu đồng tiền Việt. Chung chung thì loại ngọc trai đen giá cả mắc hơn loại ngọc trai thường (màu bạc).
Rời cơ sở ngọc trai, chúng tôi ghé lại một viện bảo tàng tư nhân. Nơi đây trưng bày những cổ vật Óc-eo và những đồ gốm vớt lên từ những tầu bị đắm ngoài khơi vịnh Tháilan. Ở đây cũng có một sở thú nhỏ nơi nuôi chó Phúquốc và Ó Biển Phúquốc. Đọc nguồn gốc chó Phúquốc trên các tấm tranh tường tôi lấy làm thú vị vì loại chó này có họ hàng với giống chó rừng Dingo của Úc, nơi cách Phúquốc khoảng mười ngàn cây số đường chim bay. Chó Dingo thực ra có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á, là một loại chó nhà được đưa qua Úc bởi các ngư dân Nam Dương khi họ trao đổi hàng hoá với thổ dân Úc. Sau này thổ dân Úc để chó chạy rông nên chúng sinh sôi nảy nở trên hòn đảo lục điạ mênh mông này và trở thành chó rừng.
Bỏ nhà bảo tàng tư nhân, chúng tôi ghé lại Dươngđông thăm cơ sở trường Mầm Non của các sơ Đaminh Lạngsơn. Nhưng trước khi ghé thăm các sơ Cha Hải Đăng cho chúng tôi ghé thăm đất nhà thờ và nhà xứ cũ của Dươngđông. Đặc biệt, chỉ cho chúng tôi thấy cái bệ chân đế của tượng Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu Hài Đồng, mà bây giờ đang đứng trước toà nhà bên trái của nhà xứ Anthới. Khi bước vào khuôn viên nhà xứ Anthới, tôi đã chú ý đến bức tượng này vì chiều cao khác thường của bức tượng. Đầu bức tượng cao bằng mái của tầng hai của tòa nhà. Bức tượng này do một điêu khắc gia người Pháp đúc bằng ximăng để đặt ở cửa biển Dươngđông. Sau 75, chính quyền bắt phải dời bức tượng này đi nên bây giờ tượng này mới nằm trong khuôn viên nhà xứ Anthới.
Sau khi thăm cơ sở trường mầm non của các sơ, chúng tôi đi lên Gành Dầu, một điểm nằm ở cực bắc của đảo. Tuy đoạn đường chỉ hơn 30 câysố, nhưng xe phải bò hết khoảng 2 tiếng mới tới nơi. Lý do là đường đang được mở rộng nên còn lầy lội gồ ghề, mà hôm chúng tôi đi trời lại mưa to nữa nên đường trơn trượt rất khó đi.
Chúng tôi tới một resort của một chị người công giáo. Chị ta bỏ quê hương Sađéc ra đây lập nghiệp đã hơn 20 năm. Với con mắt kinh doanh chị ta mua hơn chục mẫu đất bên một bãi biển tuyệt đẹp rồi dần phát triển thành khu resort tư nhân. Từ nhà hàng của resort, có thể nhìn thấy một dãy núi dài của một hòn đảo thuộc Kampuchia (cách khoảng 2 km đường chim bay). Lần đầu tôi được thưởng thức món cơm đặc sản của resort này là món cơm ghẹ. Thịt ghẹ được tách ra, trộn với gia vị và rau thơm, sau đó được xào đều với cơm. Bác sĩ không cho tôi ăn shell fish, nhưng ra Phúquốc mà không ăn đồ biển thì ăn gì, nên tôi tạm quên lời khuyên của bác sĩ mà xơi luôn hai chén cơm ghẹ. Ngon tuyệt vời.
Sau khi ăn no, để mặc cha phó xứ chén thù chén tạc với chị chủ quán với xị rượu sim, tôi leo lên võng nằm nghe sóng vỗ rì rào rồi chìm vào giấc ngủ bình yên. Trời mưa lâm râm không ngủ thì cũng chẳng biết làm gì.
Tôi choàng tỉnh khi cha phó đánh thức tôi dậy để về vì đã gần 5 giờ chiều. Chúng tôi về đến nhà vừa kịp bữa cơm tối.
Tôi rời Anthới sau khi dâng lễ Chúa Nhật và ăn sáng. Ghé phi trường tôi mua hai cặp rượu sim, đóng thùng gởi máy bay, rồi làm thủ tục lên máy bay tạm biệt Phúquốc.
Sáng thứ hai ngày 21 tháng 6, tôi đi xe ôm vào thăm Cha Phạm Văn Thành, bạn đồng hương và đồng môn, trong Kênh 0. Đây là lần đầu tiên tôi vào Kênh này. Cả hạt Tân Hiệp đây là kênh duy nhất có chiếc cầu vượt nối đường lộ chính với đường kênh. Chiếc cầu này khá lớn, rộng đủ để xe 12 chỗ ngồi vào được. Và đường kênh cũng đã trải nhựa thật khang trang.
Vì không biết cha Thành ở khúc nào nên tôi ghé vào nhà thờ đầu tiên. Thật bất ngờ tôi được gặp cha Phạm Thế Hoà (lớp 66) là cha xứ ở đây. Tuy không báo trước và cũng không có hẹn trước, tôi vẫn được tiếp đón thật niềm nở. Nói chuyện một hồi lâu tôi mới hỏi thăm chỗ ở của cha Thành thì cha Hoà chỉ tay ra ruộng nói với tôi hắn ở nhà thờ bên kia. Hai nhà thờ cách nhau khoảng hai cây số nên từ nhà xứ cha Hòa nhìn ra thấy nhà thờ kia rõ mồm một. Tôi xin phép cha Hòa đi thăm cha Thành thì cha Hòa dặn: cứ đi thăm hắn rồi trở lại đây ăn cơm trưa với mình nhé.
Anh xe ôm lại chở tôi đi tới nhà thờ bên cạnh. Khi tôi tới cha Thành cũng bất ngờ như Cha Hòa. Chúng tôi có dịp ngồi ôn lại chuyện cũ với nhau và hỏi thăm về gia đình của nhau, hay đúng hơn tôi hỏi thăm về giai đình của cha Thành, vì từ năm 1981 đến nay chúng tôi mới có giờ ngồi nói chuyện tâm tình riêng như thế này. Cha Thành dắt tôi ra thăm nghiã trang của giáo họ. Đường ra nghiã trang được đổ bêtông thẳng tắp. Và bốn chung quanh nghiã trang là lúa đang kỳ trổ bông ngậm hạt xanh rì một màu xanh bát ngát. Nói chuyện với nhau trong khung cảnh nên thơ như vậy, là một kỷ niệm thật đẹp trong chuyến đi của tôi.
Tôi trở về nhà xứ Cha Hoà ăn cơm trưa thì cha Thành cũng có việc phải đi nên chúng tôi chia tay nhau. Bữa cơm trưa ở nhà xứ cha Hòa hôm nay có đông đủ các chức sắc trong xứ. Họ đến để sửa sang nhà thờ chuẩn bị đón đức cha đến thăm nên được đãi ăn cơm. Vì họ còn chén thù chén tạc nên tôi và cha xứ về phòng nằm nghỉ nói chuyện và ngủ trưa.
Cha Hòa nhờ một ông trùm chở tôi về nhà. Tình cờ trên đường về tôi có dịp thăm một người bạn cũ của mẹ tôi trong chợ Tân Hiệp. Tôi và con trai của bà rất thân với nhau lúc còn bé ở Dục Mỹ. Bây giờ hỏi lại mới biết nó đã chết năm 75 trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến.
Tối hôm đó cha Ngọ ở Gòquao và Cha Ngọc ở Nămcăn, Càmau, ghé ăn cơm và ngủ qua đêm để hôm sau tham dự buổi họp lớp.
Sáng 22 tháng 6, cô em tôi cho tài
xế chở chúng tôi tới nhà ông Trùm Trần Văn Cận ở phố K.8 để họp lớp. Trên
đường đi chúng tôi đón cha Phạm Văn Ái ở cổng nhà thờ K.8. Cha Ái tạm trú
tại đây hai ba bữa rồi vì cha xứ là đồng hương K.3. Khi tới nơi chúng tôi
được chào đón không những bởi chủ nhà mà còn bởi hơn một tá các anh em từ
vùng Giakiệm-Hốnai và Sàigòn đã có mặt ở đó từ tối hôm trước. Tôi rất vui
khi lần đầu tiên gặp lại Lê Văn Công (Sàigòn) và Đinh Ngọc Tuyên (Đơndương)
là hai người mà đã gần 40 năm không gặp. Sau đó là màn giới thiệu nhau, và
đặc biệt giới thiệu các phu nhân của anh em để mọi người biết mặt. Tuy bây
giờ tóc đã điểm sương, và nhiều người đã có cháu nội cháu ngoại, hình như
ai cũng cảm thấy trẻ ra vì những kỷ niệm thời thơ ấu chợt bùng dậy trong ánh
mắt của nhau. Gặp lại nhau là gặp lại cả một thời yêu dấu đã qua.
Sau đó chúng tôi ra xe để đến nhà thờ Martinô, một giáo họ của giáo xứ Mông
Thọ, hiện do cha Nguyễn Văn Thược coi sóc và là nơi cha cựu Giám Luật và Giám
Đốc Nguyễn Quang Thản nghỉ hưu. Cha Thược là thày giúp chủng viện năm chúng
tôi học lớp 7. Bây giờ ngài cũng đã là một ông lão tóc bạc phơ. Còn cha Thản
thì muốn di chuyển là phải ngồi xe lăn. Ngài rất gầy yếu và bộ nhớ đang hỏng
dần.
Cha Thản ngồi xe lăn đồng tế với anh em lớp chúng tôi gồm các cha Phạm Văn Ái, Âu Thanh Bình, Nguyễn Văn Hương, Nguyễn Mộng Huỳnh, Nguyễn Văn Ngọ, Châu Hoàng Ngọc, Nguyễn Văn Thanh, và Phạm Văn Thành.
Các anh chị em cả hai miền đông tây và các cháu hát lễ rất sốt sắng. Và đầu lễ cha Hương, trưởng lớp đương nhiệm, đọc lên các ý cầu nguyện cho các anh chị em trong lớp kỷ niệm 35 năm, 30 năm, và 25 năm hôn phối cũng như cầu cho các anh em kỷ niệm 5 năm, 10 năm, và 15 năm linh mục. Thánh lễ liên kết mọi người, và nhiều thế hệ lại với nhau, vì ‘Chính nhờ Người, với Người, và trong Người’…mà chúng ta được trở nên một với nhau.
Sau lễ chúng tôi lại kéo nhau trở lại nhà Trùm Cận để dự tiệc liên hoan. Lý do buổi họp mặt hôm nay tại nhà ông trùm này là vì hai ông bà trùm kỷ niệm 35 năm kết hôn, và đặc biệt có một quý tử vừa thi đậu vào chủng viện, tháng 8 này sẽ nhập chủng viện để nối tiếp ‘giấc mơ chưa tròn’ của bố cháu. Ngồi cạnh Phùng Đình Quý (Kênh D) nghe ông cố này khoe tớ cũng có hai thằng đi tu đấy, một triều, một dòng. Hy vọng ông bạn này sẽ sớm làm ‘ông cố đúp’ thì vui biết mấy.
Buổi tiệc có sự tham dự của Cha Thược, Cha Thận, Cha Phàn. Cha cố Thản xin kiếu vì không ngồi lâu được. Đáng lẽ cũng có mặt cha Hoàng Văn Tấn, thày giúp chủng viện năm chúng tôi lớp 6, nhưng vào giờ chót ngài bận việc riêng nên không đến tham dự được.
Ông cố Cận rất vui, tuy tốn thời giờ và tiền bạc, để tổ chức buổi họp mặt hôm nay. Thấy ông cười tủm tỉm suốt từ đầu đến cuối bữa tiệc, tôi chợt nhận ra niềm hạnh phúc lớn lao của những người có cùng chung một thời dưới mái ấm chủng viện. Động lực nào mà 15 anh em miền đông bỏ thời giờ tiền bạc đi hàng trăm cây số xuống miền tây, để chỉ gặp nhau một buổi, rồi lại lên xe trở về? Động lực nào anh chị Cận, bỏ công ăn việc làm, bỏ thời giờ tiền bạc, để chào đón đãi đằng anh chị em lớp? Nếu không phải những thân tình còn hơn ruột thịt mà những năm cùng sống trong mái trường chủng viện tạo nên, thì không thể giải thích được sự hy sinh vất vả lớn lao mà các anh chị em đã bỏ ra như vậy.
Cám ơn Chúa đã cho tôi có một chuyến đi thật ý nghiã. Cám ơn Chúa đã cho tôi gặp lại những người mà trước đây chẳng bao giờ nghĩ là mình có thể gặp được. Cám ơn Chúa đã cho tôi được gặp lại những người thân, những bạn bè, những anh chị em trong lớp. Nhờ đó tôi cảm thấy được mình là người thật hạnh phúc, vì chẳng những mình có một gia đình và gia tộc, mà còn có một đại gia đình và gia tộc là điạ phận mẹ, Long Xuyên. Đây mới thật là nơi, là một chốn, để Đi-Về.
Perth 8 July 2010
Nguyễn Mộng Huỳnh