Ngày 30 tháng 4 lại đến. Đây là lần thứ 30 chúng ta kỷ niệm ngày Sàigòn sụp đổ, khởi đầu cho những mất mát chia lìa, những nhục nhằn tang thương. Những em bé sinh sau ngày này năm đó bây giờ đã là những người trưởng thành. Một thế hệ mới lớn lên sau cuộc chiến huynh đệ tương tàn không còn dính líu gì tới những ân oán của thế hệ cha anh nữa. 30 năm đã đủ để cho hận thù lắng xuống về phía những người bại trận. 30 năm cũng đủ để cho cái tự tôn qúa đáng của kẻ thắng trận dần phai đi trong quên lãng. Rất nhiều người của cả hai phía bây giờ đã nhận ra rằng một phần tư thế kỷ bắn giết nhau đã làm cho cả dân tộc Việt Nam thành người bại trận. Trong khi các lân bang như Mã Lai, Thái Lan đang dần cất cánh thì dân Việt vẫn còn là một dân tộc chậm tiến, tụt hậu và vẫn là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới.

Vấn đề sốt dẻo trong thời sự Úc từ khoảng ba năm nay là vấn đề tị nạn. Những thuyền nhân A Phú Hãn (Afghanistan) bị từ chối không cho nhập cư và bị khước từ tư cách tị nạn. Chính sách di dân của chính phủ đương quyền là ‘detain and deny’ ‘nhốt giam và từ khước’ những thuyền nhân nhập cảnh ‘bất hợp pháp’. Hoàn cảnh đất nước A Phú Hãn cũng tương tự như hoàn cảnh của Việt Nam trước đây. Cuộc chiến tương tàn giữa các phe nhóm đã làm đất nước A Phú Hãn trở thành tang thương đổ nát. Mấy triệu người đang ở trong các trại tị nạn ở các nước láng giềng. Và hàng ngàn người liều chết tìm đường vượt biên giống như người Việt sau năm 75. Cả dân tộc A Phú Hãn thành kẻ bại trận không biết đến bao lâu nữa mới ngóc đầu lên được để đuổi kịp thiên hạ.

So sánh nước ta với A Phú Hãn để thấy rằng chiến tranh không bao giờ là giải pháp tốt để giải quyết sự khác biệt giữa anh em cùng một giống nòi. ‘Bôi mặt đá nhau’ chỉ làm cho đất nước mất sức và khi nước yếu thì họa diệt vong cận kề.

Có một chuyện cổ tích kể rằng ngày xưa có một đại sư danh tiếng nên có rất nhiều đệ tử theo học. Một ngày kia ngài tập họp các để tử rất sớm từ tờ mờ sáng. Ngài dặn các đệ tử phải hết sức chú ý vì ngài có một câu hỏi quan trọng để hỏi họ.
Câu hỏi như thế này: làm sao chúng ta có thể phân biệt được khi nào đêm đã qua và ngày đang tới.
Một đệ tử sau khi suy nghĩ đã trả lời: “thưa thày có phải là khi chúng ta nhìn một con vật chúng ta có thể phân biệt được đó là con chó hay là con cừu?”
Vị đại sư đáp: “không phải”.
Một đệ tử khác thưa: “thưa thày có phải khi chúng ta nhìn từ đàng xa chúng ta có thể phân biệt được đó là cây sung hay là cây đào?”
Vị đại sư đáp: “không phải”.
Sau một vài ý kiến nữa được nêu ra nhưng đều không trúng các đệ tử cùng hỏi lại thày: “thưa thày vậy là như thế nào?”
Vị đại sư ôn tồn trả lời: “ đó là khi chúng ta nhìn vào mặt của bất cứ ai chúng ta nhận ra được họ là anh, chị, em của chúng ta. Nếu không làm được như vậy thì bất kể giờ giấc nào trong ngày, trời vẫn là đêm đen”.

Thật vậy nếu chúng ta muốn quê hương Việt chúng ta ra khỏi đêm đen thì việc trước tiên là chúng ta phải nhìn nhau, từ bất cứ phía nào, chúng ta là anh chị em của nhau. Và vì là anh chị em với nhau chúng ta cần nhắc nhớ mình là :’gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau’. Chúng ta cần tìm ra sự đồng thuận, thay vì đào sâu sự khác biệt. Và dù có sự khác biệt chúng ta cũng nên giải quyết với nhau bằng thương lượng và đối thoại, hơn là đánh đấm mạt sát nhau. Có như vậy chúng ta mới có thể giúp nhau thăng tiến và phát triển. Có như vậy con cháu chúng ta mới hãnh diện ngẩng cao đầu nhận mình là người Việt. Và nỗi nhục mất nước, nỗi nhục có một quê hương nghèo đói mới không còn là một ám ảnh khôn nguôi trong lòng chúng ta.

LM. Nguyễn Mộng Huỳnh.

 

Kỷ niệm 30 năm