ĐỒNG HÀNH TRONG TIN YÊU VÀ
HY VỌNG
Bài chia sẻ tại Đại Hội Liên Tu Sĩ Úc Châu, Melbourne 2/10/2003
Lm. Phêrô Phạm Văn Ái SJ
(Tiếp theo)
b. Trong nền linh đạo về đời sống tu trì
(i) Tông thư Novo Millennio ineunte của ĐGH Gioan Phaolô II (2001)
Trong tông huấn này, ĐGH Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh rằng người theo Chúa
trong thiên niên kỷ mới cần sống một nền linh đạo hiệp thông dựa trên một
nền tảng thần học sâu sắc.
Trên hết, linh đạo hiệp thông hướng chỉ việc tâm hồn chiêm ngắm mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi đang ngự trong ta, và việc ta phải có khả năng nhìn thấy ánh sáng của mầu nhiệm ấy tỏa sáng trên khuôn mặt của anh chị em xung quanh ta. Nền linh đao hiệp thông này còn mang ý nghĩa là ta có khả năng nghĩ về những anh chị em cùng đức tin của ta trong sự hiệp nhất sâu thẳm của Thân Thể Nhiệm Mầu, và do đó họ được coi “như một phần của ta.” Sự kiện này khiến chúng ta có thể chia sẻ niềm vui nỗi khổ của họ, cảm nghiệm ước vọng của họ và lưu tâm đến những nhu cầu của họ, để rồi trao cho họ tình bạn sâu đậm và chân thành. Nền linh đạo hiệp thông cũng bao hàm khả năng nhìn ra những gì tích cực nơi người khác, đón nhận và đánh giá điểm tích cực ấy như là món quà của Chúa: đó không hẳn chỉ là món quà ban cho người anh chị em đang trực tiếp lãnh nhận, mà đó còn là một “món quà ban cho chính tôi nữa.” Cuối cùng, nền linh đạo hiệp thông có nghĩa là biết cách “dành phòng” cho anh chị em của ta, biết cách “mang lấy gánh nặng của nhau” (Galata 6:2), biết đề kháng lại những cám dỗ ích kỷ đang liên tiếp lôi kéo tứ bề và đang khơi dậy tính tranh đua, cậy mình chuyên nghiệp, bất tín, và ghen tị. Chúng ta đừng mang ảo tưởng: những cấu trúc bề ngoài cho tình hiệp thông chỉ giúp đạt mục đích chút đỉnh trừ khi ta thi hành theo được con đường tâm linh này. Không có “hồn”, những cấu trúc bên ngoài ấy biến thành máy móc và những chiếc “mặt nạ” của tình hiệp thông hơn là những diễn tả và tăng trưởng. (Số 43)
Lời của ĐGH khá rõ ràng. Sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Thân Thể Mầu Nhiệm, nhận biết sự hiện diện của người khác, vươn tới nhau bằng tình bạn, dành phòng cho người khác trong căn nhà đời mình và cho phép họ dành phòng cho mình. Điều rắc rối là thực hiện được những lời hay ý đẹp trên. Học giả về tu đức Walter Principe chia linh đạo ra làm ba cấp bậc: kinh nghiệm thực tiễn, trình bày giáo điều, và lý sự phân tích. Chúng ta đón nhận giáo điều và phân tích về nền linh đạo hiệp thông, nhưng làm sao thực hiện được đây? Ngày nay, hơn bao giờ hết, các sứ điệp xã hội được tín cẩn đón nhận qua chứng từ của hành động chớ không phải do sức thuyết phục của lý chứng nội tại mạch lạc.
Công lý khởi sự từ gia đình. Chứng từ sống động
ấy phải được thể hiện ngay tại giáo triều Vatican.
(ii) Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, chứng nhân của Đường Hy Vọng, trong
tuần giảng phòng cho giáo triều Vatican gồm cả Đức Giáo Hoàng, đã đặc biệt
nhấn mạnh về tinh thần đồng hành bằng hiệp thông với nhau trong đời tu.
Theo Đức Hồng Y, tu đức ngày xưa có vẻ đề cao cuộc sống cá nhân thoát tục,
xa người thế. Chẳng hạn Sách Gương Phúc viết: “Khi có thể, các vị đại thánh
đều né tránh người thế và thích phục vụ Chúa trong chốn tĩnh mịch. Người
khôn nói: ‘Mỗi khi tôi hòa nhập với người thế là tôi giảm cấp làm người…’
Thay vào đó, ai giữ khoảng cách với bạn bè thân thuộc thì gần Chúa và các
thiên thần hơn” (Lib. I, c. 20, 1-6). Hiểu cách tích cực, nền tu đức này
nhấn mạnh có lúc ta cần rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện và đồng hành
với Chúa. Chúa cũng dạy các môn đệ như thế.
Tuy nhiên, từ xa xưa, thánh Basil Cả đã nhấn mạnh:
Đấng Sáng Tạo muốn ta cần đến người khác chính là để ta sống hiệp nhất với
họ… Thực tế, nếu bạn sống riêng biệt một mình, bạn rửa chân ai đây? Bạn
chăm sóc cho ai đây? Làm sao bạn đặt mình vào chỗ rốt hết được? Vì thế,
đời sống tập thể là một vận động trường để ta thao dượt làm lực sĩ, là sân
thể dục giúp ta tiến bộ, là cuộc tập luyện liên tục sống hoàn hảo giới răn
của Chúa. (Regulae Fusius Tractatae, Interrogazione 7, 3, 1-2: PG 31, 928-929)
Gần đây, Đức Gioan Phaolô II lặp lại:
Đức Giêsu đã không muốn gọi các môn đệ theo Ngài như một cá nhân tách biệt,
nhưng theo với tính cách kết hợp riêng tư và tập thể. Nếu điều ấy đích thực
cho tất cả những ai đã được Rửa Tội, hẳn điều ấy có giá trị đặc biệt với
các tông đồ và những đấng kế vị các Ngài. (Teachings of John Paul II, XVIII,
1, 1995. Cittá del Vaticano: 1997, tr. 382).
Điểm đáng chú ý không ở chỗ ĐHY trích dẫn những tư tưởng hay đẹp, nhưng
ở sự việc ngài dùng những lời hay ý đẹp đó để nhắn nhủ bậc giáo sĩ trong
giáo triều về đặc tính của ơn gọi tu trì là đồng hành với nhau và với người
họ được sai đến. Chẳng ai được quyền miễn trừ sống tình đồng hành. (Xem
Francis Xavier Nguyễn Văn Thuận, Testimony of Hope, trang 157-166; bản dịch
các trích dẫn trên của người viết dựa trên tài liệu Anh ngữ này).
c. Trong Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo
Theo sách Giáo Lý mới, sống đồng hành là sống tinh thần liên đới:
Nguyên tắc liên đới, còn gọi là “thân hữu” hay “bác ái xã hội,” là một đòi
hỏi xuất phát từ tình huynh đệ nhân bản và Kitô giáo. “Một sai lầm phổ biến
của thời đại là người ta lãng quên qui luật của tình liên đới và của đức
mến. Quy luật này được thiết đặt và và khắc ghi nơi mỗi người bất kể họ
thuộc dân tộc nào, do việc mọi người cùng chung một nguồn gốc, cùng có lý
trí và cùng được cứu độ nhờ hy tế Đức Giêsu Kitô dâng lên Cha trên trời,
nơi bàn thờ thập giá vì nhân loại tội tình.” (Giáo Lý, #1939)
Để minh họa ý tưởng của đoạn giáo lý trên, tôi xin mượn một thí dụ của Đức Cha Bùi Tuần trong bài giảng tĩnh tâm cho linh mục và tu sĩ tại Long Xuyên về tình liên đới. Theo Đức Cha, tinh thần liên đới là một nét đạo đức nhân bản mà mọi khuynh hướng xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế tôn giáo đều đề cao tại diễn trường Làng Thế Giới với chủ đề “Trái Đất Tương Lai” do Ủy Ban Công Giáo Chống Đói Và Hỗ Trợ Phát Triển tổ chức vào ngày 5, 6, 7 tháng 6 năm 1992. Tại đây, Đức Cha tham dự và quan sát thấy rằng: “Kẻ giàu người nghèo đều đồng hành với nhau trong một chuyến đi chung về tương lai. Trên chuyến đi này, chẳng ai quá giàu đến nỗi không cần đến những người nghèo, chẳng ai quá nghèo đến nỗi không có gì để chia sẻ cho người giàu. Mọi người đều liên đới với nhau trong hạnh phúc và trong rủi ro.” Tương tự, trong thánh lễ bế mạc ngày 7 tháng 6 năm 1992, Đức Hồng Y Roger Etchegaray đã nói: “Tình liên đới còn hơn là một chiến lược, và còn hơn là một nhu cầu, nó đang là một sự thực hiển nhiên, là một đam mê, được nuôi dưỡng bởi một cái nhìn về mối hiệp nhất gia đình nhân loại, mà mỗi người đều bình đẳng, và được Cha trên trời yêu thương như nhau.” (Xem Tĩnh Tâm Linh-Mục-Tu Sĩ Giáo Phận Long Xuyên, tháng 8 năm 1992)
Thật vậy, đối với người tin Chúa Kitô, nét đạo đức
nhân bản này đặt nền tảng siêu nhiên trên công trình sáng tạo và cứu độ
của Chúa: con người có chung phẩm giá và cùng được cứu chuộc. Trước mắt
Thiên Chúa, ai trong chúng ta được coi là quá giàu—cả thể xác lẫn tinh thần—để
rồi không cần ai, hoặc quá nghèo để rồi không có gì để cho, trong mối dây
liên đới và cùng đồng hành làm người với nhau.
Như nói ở trên, giáo sĩ và tu sĩ tại Việt Nam đã quan tâm đến tình đồng
hành bằng thực thi nét đạo đức liên đới 11 năm trước đây rồi! Chúng ta ở
hải ngoại bây giờ thì sao? Có lẽ lời chúng ta giảng dạy giáo lý cho người
khác cũng là lời ta nói với chính mình. “Hãy tin đìều thày đọc; hãy rao
giảng điều thày tin; hãy thực hành điều thày giảng” (xem Nghi Thức Truyền
Chức Phó Tế).