ĐỒNG HÀNH TRONG TIN YÊU VÀ
HY VỌNG
Bài chia sẻ tại Đại Hội Liên Tu Sĩ Úc Châu, Melbourne 2/10/2003
Lm. Phêrô Phạm Văn Ái SJ
Cách nay 20 năm, tại Adelaide, tôi cùng một vài vị
đang có mặt nơi đây dò dẫm tìm hiểu ơn gọi nơi phương “trời mới, đất mới.”
Chúng tôi thành lập một nhóm chia sẻ cầu nguyện. Mặc dầu chia cơm sẻ bánh
không ít bên cạnh việc chia sẻ những thao thức băn khoăn, số người tham
dự cứ rụng dần. Có thể là vì chực lâu chầu mỏi mà chưa thấy ánh sáng loé
lên nên bà con chán nản. Có thể ai đó thấy lụt mất tiếng gọi trước khi tìm
ra ơn gọi. Có người tìm được tiếng gọi khác để hát bài “Một ngày hân hoan
quí báu cho hai người.” Để củng cố tinh thần chiến sĩ, anh trưởng nhóm,
mặc dầu chưa đi lính bao giờ, hùng hồn chia sẻ câu chuyện dụ ngôn ba anh
lính tử thủ một tiền đồn. Bị hỏa lực rát quá, ai trong ba người cũng sợ
và muốn tháo chạy. Nhưng khi liếc nhìn sang bên cạnh ai cũng thấy bạn mình
đang hăng say chiến đấu. Thế là cả ba cùng kiên trì nằm lại tử thủ giữ tiền
đồn.
Câu chuyện đó nhắc nhở tôi những câu cách ngôn trong phần Quốc Văn Giáo Khoa Thư thời tiểu học. Thí dụ, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao;” “Học thày không tày học bạn;” hoặc “Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư.” Rồi vượt sang Tây ta nghe câu: “Một người bạn đến đúng lúc cần thì đích thực là một người bạn” (A friend in need is a friend indeed). Nhìn vào kho tàng linh đạo, ta quen nghe Thomas Merton gióng lên một sự thật: “Không ai là một hòn đảo.”
Thật vậy, đề sống ơn gọi làm người trọn vẹn, để làm việc, để nên thánh, mỗi người cần người khác. Inhaxiô Loyola và Phanxicô Xavier chắc hẳn không gầy dựng nổi cơ đồ nếu không có tình đồng hành của nhau và các bạn Giêsu Hữu tiên khởi. Bảy anh em đồng hành cùng thao thức, cùng mơ mộng, cùng liều thân dấn bước, cùng cam chịu thử thách và ngay cả thất bại, rồi vì yêu Chúa và tin nhau nên cùng nhau tìm ra ý Chúa và đường hướng cho sứ vụ tương lai: Dòng Tên ra đời.
Trong phần chia sẻ hôm nay, tôi xin được giới hạn
trong ba đề mục.
1. Một vài suy tư về nền linh đạo đồng hành trong đời sống tu.
2. Thể hiện tinh thần đồng hành giữa những người tu.
3. Đồng hành với những người ta được sai đến để phục vụ.
Những chia sẻ sau đây không phải là giải đáp nhưng là đặt vấn đề. Tôi chỉ mạn phép thu gọn và sắp xếp lại một vài tư tưởng, khuyến dụ, và kinh nghiệm thực hành từ Kinh Thánh, từ nền tu đức quen thuộc trong giáo hội, của Đức Giáo Hoàng đương nhiệm, của mấy vị giám mục Việt Nam đã quan tâm nhắn gởi các giáo sĩ và tu sĩ liên hệ dựa theo kinh nghiệm mục vụ của các ngài.
1. MỘT VÀI SUY TƯ VỀ MỘT NỀN
LINH ĐẠO ĐỒNG HÀNH TRONG ĐỜI TU
a. Trong Kinh Thánh
Trong đời tu, có lẽ chúng ta đã nghe hoặc suy niệm hoặc giảng những đoạn Kinh
Thánh với hình ảnh phong phú và sống động về việc đồng hành.
Thí dụ, “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương
xứng với nó” (Sáng Thế 2:18). Người trợ tá tương xứng đây không hẳn chỉ hạn
hẹp hiểu trong tương giao vợ chồng, nhưng còn bao gồm tương giao với người
bạn đồng hành trong ơn gọi cùng làm người vươn lên trong chương trình của
Đấng Sáng Tạo. Nói theo linh đạo của thánh Inhaxiô: Con đường chung của con
người được tạo dựng là tôn vinh Thiên Chúa và mưu tìm lợi ích cho linh hồn
mình (Linh Thao, số 23) Đồng hành là cùng tôn vinh và cùng đi tìm. Như thế
vinh quang Chúa sẽ huy hoàng hơn và con đường kiếm tìm sẽ chắc chắn hơn.
Hoặc, qua việc ký kết giao ước với Abraham, Giavê đồng hành với dân Ngài chọn (xem Sáng Thế 15:1-19). Dù dân riêng có bỏ Ngài nhưng Ngài không bỏ họ. Phúc cho dân Do Thái vì họ có bạn đồng hành là Giavê Thiên Chúa rất mực kiên nhẫn và trung thành. Nhưng ơn sủng ấy kèm theo đáp trả cụ thể. Họ còn phải đồng hành với Môisen và với nhau trong sa mạc đầy thử thách nữa. Những đặc tính ơn gọi đồng hành của dân Chúa ngày xưa cũng chính là đặc điểm ơn gọi của dân Chúa ngày nay.
Trong Phúc Âm theo thánh Luca (24:13-35), tình tiết và hình ảnh 3 người bạn đồng hành trên đường đi Emmaus rất gần với chúng ta. Chúa đến với hai người đi Emmaus trong dáng dấp của một người khách lạ. Ngài đến đúng lúc họ ray rứt về chuyện đã qua nhưng không thể quên được. Họ toan bỏ cuộc. Thực sự họ đã bỏ anh chị em còn đang hoang mang như họ tại Giêrsalem. Chúa đi cùng với họ, gần bên họ, muốn tham dự vào câu chuyện đang dở dang của họ. Lắng nghe họ kể, Ngài làm như không biết để họ nói cho vơi nỗi buồn. “Trước đây, chúng tôi đã hy vọng rằng…” Như thế niềm hy vọng chỉ là chuyện quá khứ “trước đây.” Cả niềm tin yêu cũng vậy, giờ đây đã trở nên khô cứng và chai lì. Họ chẳng còn tin nổi vào lời các bà ra thăm mộ. Lại còn thiếu yêu thương khi mỉa mai tin sống lại là chuyện tưởng tượng vớ vẩn của đàn bà. Chúa kiên nhẫn gợi lại niềm tin yêu và hy vọng bằng đồng hành với quá khứ của họ qua những chặng thách đố, gian nan, đau khổ, chán chường. Nhưng niềm tin yêu và hy vọng chỉ thực sự bừng sống lại khi “tam nhân đồng hành” đồng ý ngồi lại lâu hơn và dùng bữa với nhau. Khi người khách lạ bẻ bánh, ông trở thành thân quen vì kỷ niệm yêu thương cũ trở lại. Hai bạn đồng hành trải qua tâm trạng từ lòng nôn nóng lên, tới cảm động, thức tỉnh để rồi lên đường hành động theo ơn vừa lãnh nhận. Mặc dù vừa mới khuyên can người khách lạ dừng chân vì đã chiều tối, họ tức tốc lên đường ngay chính đêm đó để nối lại tình đồng hành với những anh chị em đang run sợ trong căn phòng đóng kín tại Giêrusalem.
Kinh nghiệm của hai môn đệ trên đường Emmaus cũng là kinh nghiệm của mỗi người chúng ta. Hy vọng “trước đây” có thể diễn tả đúng tâm trạng lúc ta vừa khấn dòng, chịu chức, hoặc vừa về nhận một sứ vụ mới… Có lúc ta tưởng Ngài vắng mặt thì Ngài lại đang ở gần bên. Có lúc ta nhận ra Ngài ở gần bên thì Ngài lại biến mất rồi. Có những lúc nghe lời Chúa, cầu nguyện, cử hành các bí tích, làm việc mục vụ như dạy học, dạy giáo lý, tập hát, coi hội đoàn, làm bệnh viện… ta thấy lòng mình “nóng lên” giống như hai môn đệ trên đường Emmaus. Ta cảm thấy mình gần Chúa hơn, sốt sắng, bình an, hầu như gặp được Ngài. Có những lúc khác, ta cảm thấy mình lạnh nguội, khô khan, lo âu, sợ hãi, chán nản, thất vọng.
Từ đó, đồng hành với nhau là đem lại an ủi cho nhau. An ủi vì có Chúa và có người khác chia sẻ nâng đỡ. Nhưng rất nhiều lúc, bạn của ta chỉ thực sự thấy ta đồng hành với họ khi ta dám chấp nhận “bẻ bánh.” Bẻ bánh là bẻ chính thân mình, bẻ giờ, bẻ sức, bẻ cái tôi… chớ không phải là bẻ người khác. Đồng hành hàm ý quên mình, vị thế và quan niệm của mình. Đồng hành đòi từ bỏ và hy sinh.