<%@LANGUAGE="JAVASCRIPT" CODEPAGE="CP_ACP"%> Untitled Document

Anh bạn tôi đang đêm gọi điên thoại cho tôi kêu than về sự thờ ơ của giáo dân đối với việc chung.Giọng anh trầm buồn, đầy vẻ chán nản, anh nói anh không hiểu tại sao giáo dân của anh xuống tinh thần quá.Tôi để anh nói thật nhiều và gợi mở để anh trút xả hết những phiền muộn và bực dọc đang đè nặng tâm tư. Cuối cùng anh buông một câu: “ Thôi thì cũng phải chấp nhận hoàn cảnh thực tế!”

Cái hoàn cảnh thực tế mà anh nói tới, đó là giáo dân càng ngày càng kém nhiệt tình đối với việc chung.Việc chung là những việc người giáo dân đóng góp để xây dựng xứ đạo.Khác với những xứ đạo thành phố, những xứ đạo nông thôn, nhất là những xứ đạo nghèo vùng sâu vùng xa,việc chung thậ là đa dạng.Có khi giáo xứ phải xây dựng những cơ sở vật chất mới,như nhà thờ, nhà xứ,nhà giáo lý… Hoặc có khi phải nâng cấp một công trình đã hư hại vì thời gian; có khi phải canh tác phần đất của giáo xứ. Rồi những công tác có tính thường xuyên như trông coi khu vực nhà thờ, nhà xứ, điều hành các sinh hoạt chung…tất cả đều cần nhờ tới lao động người.

Người giáo dân xây dựng xứ đạo qua việc đóng góp vào việc chung (x.Gl điều 222…) và mục tử phải điều hành, lãnh đạo để việc chung đem lại nhiều kết qủa tốt cho cộng đoàn, xây dựng GH là nhiệm thể Chúa KiTô. Thế nhưng ngày nay trong các xứ đạo sự kêu gọi và điều hành việc chung co nhiều khó khăn và trở ngại.Có những khó khăn đến từ chính bản thân; Có những khó khăn của thực tế khách quan; Và có khó khăn của chính công việc đó.

Tôi xin trình bày một vài nhận xét và suy nghĩ xuất phát từ một hoàn cảnh thực tế, như một chia sẻ và gợi mở.

1.Người giáo dân
Có người cho rằng sự sút giảm lòng nhiệt thành của giáo dân đối với việc chung do bởi đạo đức xuống dốc, hoặc do làn sóng tục hóa quá mạnh lôi cuốn, hoặc bởi chủ thuyết này chủ thuyết nọ tác động.Chúng ta ghi nhận ý kiến đó, nhưng có một lý do khách quan mà chúng ta có thể dễ nhận thấy đó là xã hội hôm nay thay đổi quá mau.Con người nằm trong vòng xoay chuyển ấy không thể không bị tác động. Nhưng có lẽ thành phần nông dân chịu ảnh hưởng sâu xa nhất. Người dân thành thị trước đây đã được hưởng những tiện nghi vật chất tương đối, và ngày nay nếu cuộc sống có vươn lên cao thì những nhu cầu được mở rộng thêm ra thôi. Còn nông thôn VN, bấy lâu vẫn được bao bọc êm ả bên lũy tre xanh, hàng dừa, bên cạnh những con kênh ngọt dòng nước mát, ngày nay giới hạn đó như bị bung ra. Nông thôn hôm nay thay đổi quá nhiều.

Chương trình “ thành thị hóa nông thôn” đã đem lại cho nông thôn bộ mặt mới.Đường xá càng ngày càng được mở rộng và hoàn thiện; pương tiện đi lại cũng dễ dàng và đa dạng.Nhất là lưới điện được phủ rộng đã đem lại ánh sáng không chỉ vật chất mà còn có ý nghĩa tinh thần rất lớn: thông tin, giải trí, tri thức, liên lạc, đều ở trong tầm tay…Không có một món hàng tiêu dùng nào có mặt ở thành phố mà lại thiếu vắng ở nông thôn xa hoắc.Do vậy, trước kia chỉ ở thành thị, nhưng ngày nay cả ở nông thôn người ta cũng bị đẩy vào vòng quay vận tốc điên đảo.

Có thể nói thay đổi ở nông thôn hôm nay là cuộc thay da đỗi thịt, chứ không phải chỉ thay đổi tấm áo bên ngoài. Vật chất nâng cao càng phát sinh nhiều nhu cầu, và con người buộc phải lao vào cuộc rượt đuổi không bao giờ ngưng nghỉ.Để nâng cao mức sông bản thân và gia đình, các thanh thiếu niên trong giáo xứ bỏ thôn quê lên thành thị làm việc. Tình hình này gây ra nhiều chệch chọac trong các xứ đạo.

Trước hết là sự thiếu hụt nhân sự. Ban hành giáo, giáo lý viên, ca đoàn, các đoàn thể thiếu người phụ trách. Những người còn ở lại không muốn lãnh nhận việc chung vì gia đình thiếu người lao động. Rồi các lớp giáo lý trước đây rộn rã tiếng học bài, học kinh nay thưa thớt và tẻ nhạt.Nhiều thiếu nhi nếu không phải học giáo lý để lãnh các Bí tích, hoặcnếu không được cha mẹ thường xuyên nhắc bảo và theo dõi sẽ bỏ luôn các giờ học giáo lý.Các buổi sinh hoạt thiếu nhi không mấy lôi cuốn giới trẻ nữa vì chúng phải bận tâm lo học hành và vì có nhiều trò vui giải trí hấp dẫn hơn. Cuối cùng sân nhà thờ ngày càngvắng lặng đìu hiu, mọi ngày chứ không chỉ có “ chiều Chúa nhật buồn”.

Vật chất ngự trị cùng với những lớp trẻ đã bỏ xứ đã tác động dn việc đạo đức chính là Thánh lễ. Các Thánh lễ ngày thường thưa thớt người. Còn các Thánh lễ trọng và Chúa Nhật, dù quy tụ đông người lại thoáng thấy vẻ hấp tấp vội vã,thậm chí thái độ thụ động, uể oải, mệt mỏi nơi người tham dự lan ra hết giờ cử hành. Người ta cố gắng làm cho trọn một luật buộc để tạm an tâm hơn là tìm thấy trong Thánh Lễ một sức thiêng hỗ trợ. Những sinh hoạt đạo đức cao điểm trong năm như mùa vọng, mùa chay, mùa Gíang Sinh, mùa Phục sinh … chỉ rộ lên trong ít ngày rồi lại tắt ngúm theo nhịp sống hối hả bộn bề.

Ta còn chưa kể đến những khó khăn xuất phát từ những đòi hỏi và áp lực của xã hội dân sự tạo ra cho các phần tử của nó. Người công dân trong xã hội hôm nay có nhiều nghĩa vụ buộc phải chu toàn. Những đòi hỏi này thường lạnh lùng và có tính ‘cưỡng buộc’.Vì thế nó cũng hằn sâu trong lòng người những tức bực và giận dữ kéo dài.Việc nước, việc nhà rồi công việc sinh nhai…. Tất cả như chụp kín lấy mỗi người.

Cũng cần phải ghi nhận rằng ngày nay cơ khí hóa và kỹ thuật cao đã giải quyết được nhiều công việc cho nông dân, nhưng đời sống nông dân dù đã được cải thiện đáng kể song trước mắt và lâu dài sẽ vẫn còn nhiều khó khăn và thiệt thòi nhiều mặt.Nông dân bao đời trước sống trong cảnh êm đềm thanh thản, nhưng đã phải kêu lên: “ sự mạc đa ư nông” (không có nghề gì nhiều việc cho bằng nghề nông).Huống chi nông dân sống trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay.

Tôi trình bày những khó khăn này trong một hoàn cảnh cụ thể. Có thể có nhiều chủ quan, nhưng sẽ gợi lên những đối chiếu nào đó giúp cho sự lượng định nơi mỗi người được chính xác.

2. Tổ chức công việc
Trong một hoàn cảnh như vậy, nhất thiết chúng ta cần phải xem xét lại nhựng chương trình và công việc có liên quan tới giáo dân. Tôi muốn chia sẻ đôi điều về việc thiết lập chương trình của những dự án lớn và quy mô hơn. Đối với công việc thuộc loại này,chúng ta phải sắp xếp cho thật khít khao các nguồn nhân sự, nguồn kinh phí và thời gian thực hiện. Có nghĩa là chúng ta cần chủ động đối với công việc chứ đừng để công việc điều khiển ta. Khi thực hiện một dự án lớn, công việc chiếm lĩnh hầu như toàn bộ con người ta. Công việc đi vào bữa ăn, đi vào giấc ngủ, đi cả vào thánh lễ và các việc đạo đức.

Ta phải tập trung tất cả sức lực và tâm não để công việc được tiến hành tốt. Dẫu vậy, diễn tiến công việc vẫn không theo ý ta. Dù không phải là típ người mà ngày nay người ta thuờng gọi một cách không thiện cảm, workaholic (người nghiện công việc), ta vẫn phải miệt mài lao theo công việc một khi dự án đã khởi công. Dù đã đề ra chương trình thật khít, các yếu tố ngoại vi, các biến động có thể sảy đến bất ngờ khiến ta không còn nắm được chương trình đã đề ra nữa. Thí dụ, biến động về giá cả làm cho kinh phí bị hụt so với dự toán; công trình phát sinh khiến kinh phí tăng cao; có sự yêu sách hay xung đột trong nhóm thợ thi công… Lúc đó,ta cần phải bình tĩnh đều chỉnh kế hoạch, sắp xếp lại nhân sự, hạch toán lại các ngân khoản… để tạo một bãi đáp an toàn. Có lẽ hầu hết những công trình lớn của chúng ta hiện nay, khi khởi công chưa đủ kinh phí ngay. Ta dựa vào sự đóng góp, sự hỗ trợ hảo tâm… sẽ có sau, nhưng phải chắc chắn, đừng mơ hồ, kẻo bị mang tiếng là: “vung tay quá trán” mà công việc thì dang dở. Do đó, khi thảo chương trình cho một dự án lớn, ta cũng cần đề ra một phương án phụ trợ, song hành với phương án chính.

Hậu quả tiếp diễn của các biến động cùng với áp lực của nó sẽ là một lực cản dồn dập tấn công ta nhiều phía. Nếu không được mau chóng hoá giải, những lực này có thể đè bẹp ta. Dần dần, ta sẽ kiệt quệ, khô héo cả thể xác lẫn tinh thần và nguy co suy kiệt, sụp đổ tất cả sẽ không xa.

Trong khi điều hành công việc, ta không được quên vai trò “quản lý nhân sự”. Đây là một việc hết sức khó khăn và trong hoàn cảnh một xứ đạo thôn quê, không ai có thể làm thay ta được. Nguyên tắc hành động trong công việc cũng như trong ứng xử của người xưa, “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” vẫn có giá trị. Tuy nhiên, các nhà quản trị ngày nay đặt yếu tố con người lên hàng đầu và cho đó là một yếu tố quan trọng, có tính quyết định thành bại trong mọi tổ chức.

Trong mục vụ, yếu tố con người lại càng quan trọng hơn, bởi vì con người là: “đường đi, là điểm đến” ( chữ trong Tđ. Redemptoris Missio) của tất cả công việc mục vụ của ta. Nhưng làm sao quy tụ được tập thể giáo dân để họ ý thức được trách nhiệm của họ đối với công việc chung, để họ vui lòng cộng tác với ta và hợp tác với nhau, để họ sẵn sàng chia sẻ những khó khăn và thách thức trước mắt, một long hướng đến thiện ích chung, lại là điều không dễ. Nhưng nó lại là phương thức chủ yếu, không riêng của giáo xứ mà của mọi tổ chức có một mục tiêu nhất định cần thực hiện. Và mục vụ giáo xứ phải nhắm tới điều này.

Đối với giáo dân cần phải kiên trì giáo dục và tạo điều kiện để họ đạt tới sự trưởng thành ấy, vì nếu không thế, họ sẽ là những người vô trách nhiệm, thụ đông, dễ yêu sách, dễ khích động và xa lạ với sức sống cộng đồng vốn là gia đình Giáo Hội của họ. Thật là ý nghĩa khi nhìn lại phép lạ hoá bánh trong Mc.6,30 – 44. Chúa Giêsu mời gọi mọi người ngồixuống thành từng nhóm trước khi cho phát bánh. Ngồi xuống để tập thể có một tư thế, một tâm thế chung, cùng hướng về điều sắp được thực hiện cho mình. Trong tình thế lúc đó, tạo được sự ổn định cho một tập thể đông, vốn không tổ chức, bụng dạ đang bị cào cấu vì cơn đói hành hạ mà trời chiều lại sắp tối, không phải là chuyện dễ dàng.

Ngày nay, quy tụ giáo dân là điều khó; xây dựng hiệp nhất, yêu thương trong cộng đoàn là điều khó hơn; tạo nguồn năng động tập thể (từ chuyên môn group interaction) trong giáo dân là điều khó nhất. 3. Mục Tử Là những linh mục trẻ, có khi mới ra trường, chúng ta thường được sai đến những nơi cần nhiều sức trẻ để phục vụ. Mỗi môi trường hoạt động đều có những khó khăn riêng, Mt. 10,1 –tt. Chắc sẽ có những thất bại, những vấp váp, những chống đối và khước từ… Mỗi lần như thế, chúng ta thêm khôn ngoan hơn và cậy trông hơn, nhưng cũng là cơ hội quý báu để nhìn lại mình. Khi nhìn lại một cách nghiêm chỉnh, chúng ta nhận ra điều này lá thấy mình yếu kém nhiều mặt.

Ngày nay không có ngành nghề nào, không có lĩnh vực hoạt động nào lại không đòi hỏi tri thức, kinh nghiệm và sự dạn dầy trước các khó khăn thách đố. Đối với chúng ta, những người nhận lãnh vai trò cura animarum, những khả năng này phải vượt trội, nhưng trên tất cả đó là lòng yêu mến cùng cảm thức nhạy bén về các vấn đề con người. Chúng ta đã được chuẩn bị khá tốt và kĩ lưỡng nhiều mặt, nhưng thiết nghĩ bấy nhiêu chưa đủ. Chúng ta cần phải kiên trì trau dồi, tự rèn luyện và luôn khiêm tốn nhìn nhận những giới hạn trong khả năng phục vụ của mình.

Trong nhiều trường hợp cụ thể, lòng đạo đức và tính tốt không thay thế được những khả năng phải có. Những tri thức về Thiên Chúa, về con người, về xã hội, về mục vụ mà chúng ta học hỏi trong Chủng viện, dù vững chắc và đầy đủ, vẫn chỉ là những tri thức tổng quát và trứu tượng. Nó chưa đủ thời gian để được nội tâm hóa, tạo nên những xác tín cá nhân mạnh mẽ, để “thể hiện dưới đất” những nội dung thuộc trời cao. Tri thức yếu kém, kinh nghiệm mỏng, sơ cùng lòng đạo đức nông cạn sẽ mau chóng dẫn ta đi vào lối ngỏ của an phận sơ cứng, tự mãn và hình thức để rồi trở thành những bóng mờ của ảo vọng và nguỵ tín.

Pastores Dabo Vobis coi mục vụ là hoa trái của đời sống thiêng liêng, trí thức và nhân bản. Diễn tả một cách hình ảnh thì Mục vụ là một thứ rượu ngon hảo hạng được ủ kín và chiết xuất từ một quy trình và công thức hoàn chỉnh với Men đặc chủng (thiêng liêng), Nuớc tinh khiết (Trí thức) và Gạo chất lượng (Nhân bản). Ba chất này tạo nên một hợp chất hoàn chỉnh, và bởi vậy một trong những yếu tố chất kém sẽ ảnh hưởng tới phẩm chất của rượu. Tiếc thay thứ rượu mà nhiều người hy vọng là tuyệt hảo lại chỉ là thứ rượu trung bình hoặc xoàng, thậm chí kém. Thật sự chỉ có đức Giêsu mới là thứ rượu tuyệt hảo được ban cho con người, thứ rượu mà ngưới ta mong đợi “cho tới giờ này”(Gio 2, 10) Còn chúng ta vẫn cứ phả tự thanh luyện, vượt qua những thách đố để trở nên thứ khả quan hơn.

Trong bối cảnh văn hóa mà người ta thường quan tâm đến cái cụ thể, cái trực diện, cái đời thường thì khía cạnh “Gạo” , nhân bản, được soi xét nhiều hơn. Đầu tiên cần ghi nhận rằng , theo PDV, đời sống nhân bản không đơn giản chỉ là tập hợp một số cách lối ứng xử theo bài bản nào đó để “đắc nhân tâm” , để “ dĩ hoà vi quý” cho mọi nhà êm chuyện. Thực sự đó chỉ là những mẩu vụn của đời sồng nhân bản. Sâu xa hơn, đời sống nhân bản dựa trên một nhận thức đích thực về con người của mình trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và với vũ trụ. Người trương thành nhân bản sống hài hoà với chính mình để hoà nhập với anh em và gặp gỡ Thiên Chúa.

Trong tương quan với tha nhân, những khuyết điểm nơi mỗi người là cơ hội để đến với nhau, bổ túc nhau, để thăng tiến. Đáng tiếc thay, rất nhiều lần người ta lại chỉ thấy cái tương đối, cái giới hạn này giao diện với cái tương đối cái giới hạn khác. Những trục trặc, những kêu ca, phiền trách xuất phát từ đó. Quả thật ngày nay chúng ta đã nghe quá nhiều những lời trách cứ linh mục, nghe một cách công khai, nghe riêng tư, nghe…lén. Nếu trong tương quan với Thiên Chúa và vũ trụ vật chất, lắm lúc tâm hồn ta hướng thượng, siêu việt thì trong tương quan với tha nhân không ít lần tâm hồn ta cảm thấy nặng nề, chán ngán. Một trong những lời kêu ca về linh mục mà ta thường gặp nhất, đó là thái độ, mặt tiêu cực là coi thường, xa cách giáo dân; và mặt tích cực là khinh thị, thậm chí miệt thị giáo dân. Có người còn thẳng thắn nói không mấy linh mục thoát bỏ được thái độ này, tuy mức độ có đậm nhạt khác nhau. Chắc đây là một kiểu nói, nhưng chúng ta cũng phải tự vấn, vì biết đâu có khi người đó chính là mình.

Nếu truyền giáo chủ yếu không phải là hành động (acting) cho bằng hiện diện (being) thì cung cách xử đối như thế la một phản chứng tệ hại .Linh mục là người mang con tim mục tử của Chúa KiTô , đấng đã yêu con người đến cùng, yêu trongthân phận rốt hèn của nó, đấng ấy đã nói: “Ta biết các chiên của ta “. Tôi nghĩ rằng giữa lòng yêu thương (cái tâm) và sự nhận biết (cái trí) đối với đối tượng yêu thương có một tương quan chặt chẽ. Càng yêu ai tôi càng biết người đó; càng biết người đó, tình yêu tôi dành cho họ càng sâu xa, nồng thắm hơn. Dân gian cũng diễn tả điều đó: “ Xa mặt thì cách lòng” (Loin des yeux, loin du coeur)

Có lẽ cũng vì thế mà Công đồng cũng như PDV đã mời gọi chúng ta hãy vun đắp những tri thức sâu rộng và nuôi dưỡng những cảm thức bén nhạy về con người .Toàn cảnh con người hôm nay cùng những khát vọng sâu kín trong tâm hồn của họ mở ra những chiều kích mênh mông, mời gọi ta lên đường hăng say tìm kiếm .Một cách ưu tiên, chúng ta cần phải biết những con người và những tình cảnh của họ trong cộng đoàn của ta.

Kết luận:
Chúng ta tất cả đều muốn cống hiến thật nhiều cho Giáo Hội, cho đoàn chiên, theo gương Đức Giêsu, ‘Con người đến không phải để được người ta phục vụ nhưng để phục vụ’ (Mt.20,28). Tôi thiết nghĩ, giả như chúng ta ‘được phục vụ’ hẳn sẽ đơn giản rất nhiều, đàng này để phục vụ người ta,phục vụ dân Chúa, chúng ta luôn phải tỉnh thức, phải khôn ngoan, cẩn trọng, trung thành…(Mt.10,16).Cuộc sống với đầy những khó khăn và thách đố sẽ không vô tư đối với chúng ta khi chúng ta bất cẩn,bất tín, bất trung với sứ mệnh đã lãnh nhận.Chúng ta đã nhận được dồi dào ơn Chúa cho sứ mệnh được trao, tuy nhiên bản thân mỗi người vẫn cứ phải cố gắng va thanh luyện để việc phục vụ con người, phục vụ Giáo Hội đạt kết quả tốt.Vậy đó cũng là một khó khăn nữa đặt ra cho chúng ta.

Jos. Ngô Quang Trung

ĐỐI DIỆN VỚI MỘT THỰC TẾ