Đối với tôi, bước sang một năm mới, là bước gần đến ngày ra đi.

Vì thế, tôi nghĩ đến một cách, để thể hiện tinh thần hiệp thông với Đức Cha Giuse và anh em linh mục, đang khi chúng ta còn được gặp nhau. Cách đó là tâm sự về vài điều tôi nhận thấy, khi nhìn lại cuộc đời tôi được Chúa sai đi. Nhất là cuộc đời Giám mục của tôi.

Các điều tôi ghi nhận về cuộc đời Chúa sai tôi đi, thì khá nhiều. Hôm nay, tôi chỉ xin chia sẻ 2 điều:

I/ Cảm nghiệm về thánh ý Chúa khi tôi được sai đi, trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt.
II/ Cảm nghiệm về cách thực hiện những thánh ý đó.

Tôi xin nói vắn, nhưng rõ, với hy vọng chia sẻ này sẽ được đón nhận như một món quà thân thương.

I Cảm nghiệm về thánh ý Chúa, khi tôi được Chúa sai đi.

Khi Chúa sai tôi đi, Chúa không hiện ra nói cho tôi biết, Chúa sai đi vì những mục đích riêng nào. Nhưng, trong khi tôi hoang mang, sợ hãi, thì Chúa trấn an tôi, bằng cách cho tôi cảm thấy thánh ý Chúa dành riêng cho tôi là
thế này:

1/ Trước hết, tôi cảm nghiệm Chúa sai tôi đi, để tôi hiện diện ân cần giữa đoàn chiên, như người mục tử nhân lành gắn bó với đoàn chiên, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn.

Dù không làm được gì, chỉ hiện diện như một người cha, một người mẹ, thì cũng đã là một lò lửa toả ấm và tin tưởng cho cả gia đình, trong cảnh lạnh lẽo, hoang mang.

Từ kinh nghiệm đó, tôi cho rằng: Sự các linh mục hiện diện thường xuyên một cách ân cần gắn bó với nơi mình được sai đến là điều thánh ý Chúa coi như trách nhiệm đầu tiên.

2/ Tôi cảm nghiệm Chúa sai tôi đi, để tôi cùng với đoàn chiên đón nhận sự Chúa thanh luyện Hội Thánh Việt Nam nói chung, và từng cộng đoàn, từng tín hữu nói riêng.

Sự thanh luyện thời 1975 là rất mới mẻ, đau đớn và lâu dài. Qua kinh nghiệm đó, tôi hiểu rõ hơn vai trò của người mục tử trong việc chia sẻ sự thanh luyện, mà Chúa thường thực hiện cho Hội Thánh.

Khi Hội Thánh bị thử thách, hầu như ai cũng phải rơi vào cơn khủng hoảng. Lúc đó, nếu được Chúa giúp, người ta sẽ được ơn dứt bỏ ý riêng, để bám vào Chúa, và vui lòng thuận theo ý Chúa. Trong những trường hợp như vậy, người mục tử sẽ giữ vai trò đặc biệt, để giúp đoàn chiên đón nhận ơn thanh luyện.

3/ Tôi cảm nghiệm thấy, Chúa sai tôi đi là để làm chứng cho Thiên Chúa tình yêu.

Thời gian 1975, chúng ta thấy làm chứng cho Chúa tình yêu là điều khó có thể làm được. Đầy nghi kỵ, đầy thiên kiến, đầy thù hận. Nhưng với ơn Chúa, tôi thấy nhiều tín hữu đã làm chứng được bằng một đời sống cụ thể. Dần dần, nhiều người khác cũng cùng làm chứng cho Thiên Chúa tình yêu. Kết quả lan rộng và đi sâu.

Kinh nghiệm đó dạy tôi rằng: Làm chứng cho tình yêu Chúa là việc luôn khó. Nhưng bao giờ cũng có kết quả, nhờ cậy tin vào Chúa. Khởi đi từ người đứng đầu Hội Thánh
địa phương.

4/ Tôi cảm nghiệm thấy, Chúa sai tôi đi, là để gieo trồng Lời Chúa.

Hoàn cảnh lúc đó, tôi gặp nhiều khó khăn trong việc rao giảng. Nhưng chính vì thấy khó, nên tôi luôn giảng Lời Chúa, chứ không giảng lời ai khác. Sau cùng, việc gieo trồng Lời Chúa đã mở rộng ra xa và thành thói quen. Kinh nghiệm trên đây rất quý cho tôi. Nó cũng nhắc cho các linh mục hãy luôn đào sâu Lời Chúa.

5/ Tôi cảm nghiệm thấy, Chúa sai tôi đi, để góp phần nào vào việc giúp cho liên hệ giữa Việt Nam và Toà Thánh được cải thiện dần dần.

Tình hình sau 1975 hết sức căng giữa Đạo và Đời, giữa Việt Nam và Toà Thánh. Nhưng, Chúa thương, dần dần đã có những bước tiến nhỏ. Về việc này, tôi thấy nhiều người, cho tới bây giờ, vẫn chưa thấy sự tế nhị của vấn đề. Vấn đề không đơn giản chút nào. Như vụ phong thánh. Theo tôi, cầu nguyện và hy sinh vẫn hơn là giải thích.

6/ Sau cùng, tôi cảm nghiệm thấy, Chúa sai tôi đi, để trở thành một phần nhỏ bé của Hy Lễ cứu độ do Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha.

Nhận thức trên đây giúp tôi dâng thánh lễ trên bàn thờ không phải chỉ là nghi thức bí tích, mà còn phải dâng lên Chúa chính mình và đời sống tôi, với những đớn đau, vất vả, lo âu hồn xác hằng ngày.

Kinh nghiệm dâng mình làm của lễ mọi ngày và suốt đời giúp tôi hiểu, kẻ được sai đi phải nhớ mình được sai đi vác thánh giá và bước theo Chúa Giêsu vác thánh giá. Suốt đời mình phải là một Hy lễ trên thánh giá.

Trên đây là những gì tôi cảm nghiệm về thánh ý Chúa, khi tôi được Chúa sai vào một giai đoạn lịch sử. Những cảm nghiệm đó cho phép tôi nghĩ rằng: Mỗi mục tử, khi được sai đi, cần lắng nghe thánh ý Chúa. Xem Chúa muốn gì. Có những thánh ý Chúa không được ghi rõ trong bài sai. Mỗi mục tử phải tự mình khám phá ra những nhu cầu khẩn thiết đang đặt ra nơi mình được sai đến, và ở giai đoạn lịch sử mình được sai vào.

II Cảm nghiệm về cách thực hiện các thánh ý Chúa

Nhờ những năm làm Linh Hướng trong chủng viện, tôi nhớ những bài tu đức của các bậc khôn ngoan dạy, về cách thực hiện thánh ý Chúa. Tôi xin nêu lên vài việc chính yếu cụ thể như:

1/ Phúc Âm hoá những chiều sâu của chính mình.
a) Siêng năng cầu nguyện, gẫm suy Lời Chúa, dâng lễ sốt sắng. Để sống tốt tương quan với Chúa.
b) Không tự cho mình quyền xét xử người khác và đổ lỗi cho ai. Để sống tốt tương quan với người khác.
c) Chấp nhận mình yếu đuối, dễ lỗi lầm, có nhiều giới hạn. Thực lòng thống hối, khiêm cung. Để sống với mình trong sự thực.
d) Cảnh giác với những ước muốn, những thao thức và những đối tượng mình mơ tưởng.
e) Luôn xin Chúa Giêsu là trung tâm đời mình.

2/ Đi sâu vào tầm xa của các dự đoán tôn giáo.
Cần có những dự đoán đúng về tình hình tôn giáo trong tương lai. Kinh nghiệm cho tôi thấy: Tại Việt Nam, trước 1955 và 1975, nhiều đấng bậc đã có những dự đoán rất sai về tình hình, kể cả tình hình về Công giáo. Dự đoán sai, nên chuẩn bị sai, đầu tư sai.

3/ Mở rộng cái nhìn về những giá trị được đánh giá là cần được vun trồng sớm.
Nhìn rộng trong các lãnh vực xã hội, tôn giáo và tu trì, xem sự phục vụ nào là đang cần. Như sự chăm sóc đến tầng lớp nghèo, sự chính người tu cũng cần chia sẻ cảnh nghèo của dân, sự đào tạo đúng đắn tinh thần Giáo Hội và tinh thần Dân Tộc.

4/ Tỉnh thức phân định ý Chúa
khác ý thế gian
khác ý ma quỷ
khác ý xác thịt.
Đồng thời tỉnh thức nhận ra những sự lạ lùng Chúa làm hằng ngày. Thường có rất nhiều ảo tưởng, hoang tưởng về ý Chúa và việc của Chúa.

5/ Luôn nâng cao hơn mãi trình độ trí thức cần cho người mục tử thời nay.
Sẽ rất là thiệt hai cho mục vụ, khi trình độ trí thức thấp, yếu về suy tư, lại phải đối thoại với nhiều loại tư tưởng phức tạp, chống đạo, nghịch đạo, phản đạo. Nhất là không nhận ra vấn đề nào trong một tình hình đầy những vấn đề.

6/ Chấp nhận sự hèn mọn của mình, để
- biết cộng tác với người khác
- biết rời công việc, khi mình không còn đủ sức
- biết phó thác tuyệt đối vào Chúa, trong mọi trường hợp.
- biết luôn bắt đầu lại. Nhưng, không vì phó thác nơi Chúa, mà rơi vào buông xuôi, lười biếng, ù lỳ, nguội lạnh.

Kết

Trên đây là một chia sẻ đơn giản, riêng tư.
Qua chia sẻ này, tôi xin có một kết luận vắn gọn, đó là: Người môn đệ được Chúa sai đi phải lấy tu đức làm chính, làm nền.
Tu đức nói đây phải hiểu là tu đức của Phúc Âm. Chứ không mạo hiểm bám vào những thứ tu đức dễ dãi, lệch lạc.
Đạo đức của cộng đoàn lên hay xuống, một phần do các mục tử. Các mục tử có là một thứ máng chuyên chở ơn thánh xuống cho cộng đoàn hay không, một phần vì các ngài có còn là người của Chúa hay không.

Và nếu các ngài muốn là người của Chúa, thì dứt khoát các ngài phải sống theo tu đức Phúc Âm. Tu đức cả trong nội tâm. Tu đức cả ở thái độ, tư cách bên ngoài. Chúng ta hãy khiêm nhường, kiên trì tập luyện tu đức Phúc Âm hằng ngày, suốt đời cho đến chết, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh. Coi tu đức là bổn phận ưu tiên.

Tương lai Hội Thánh Việt Nam sẽ gặp những thử thách mới. Riêng tôi, khi nhìn lại đời mình, tôi thấy đời mình có nhiều thiếu sót, lỗi lầm về tu đức. Xin Chúa xót thương tha thứ. Xin mọi người rộng lượng thứ tha. Trong tinh thần hiệp thông, tôi trông cậy nơi Hội Thánh, và hoàn toàn phó thác mình trong trái tim Chúa giàu lòng thương xót, nhờ Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse.

Ngay sau lễ Noel 2004, sóng thần đã xuất hiện. Đây là biến cố hiếm thấy đã gây thảm hoạ kinh hoàng sâu rộng. Nó tàn phá dữ tợn nhiều nơi. Nó ngang nhiên cất đi từng vạn mạng sống. Nhiều nước vì nó mà ngập tràn
nước mắt.

Trong Phúc Âm

Không biết cảnh tang thương đó có được thực sự báo trước trong Phúc Âm hay không. Nhưng các Phúc Âm đã ghi lại lời Chúa Giêsu báo trước cảnh tương tự như thế bằng những lời đáng sợ. Như trong Phúc Âm thánh Matthêu, Chúa Giêsu phán: "Người ta không hay biết gì, đến khi nạn hồng thuỷ ập tới, cuốn đi hết thảy" (Mt 24,39).

Chúa Giêsu phán những lời trên đây, để nhắc lại nạn đại hồng thuỷ xưa đời ông Noe, và được áp dụng về những cảnh rùng rợn sẽ xảy ra trước ngày tận thế.

Trong lịch sử

Tôi nghĩ chưa tới tận thế đâu. Nhưng trong dòng lịch sử, vẫn có những biến cố bất ngờ ập tới như hồng thuỷ và như sóng thần gây nên những đột biến hãi hùng.

Đã có như thế trong lịch sử thế giới.
Đã có như thế trong lịch sử Giáo Hội toàn cầu và nhiều Giáo Hội địa phương.
Đã có như thế trong lịch sử nhiều cộng đoàn và nhiều gia đình.
Đã có như thế trong đời một người, một sự nghiệp.

Riêng trong lãnh vực Công giáo, chúng ta không thể không xót xa, khi nhắc tới những thứ sóng thần đã gây nên nhiều mất mát.

Còn đâu những giáo đoàn sốt sắng thời thánh Phaolô.
Còn đâu những giáo phận sầm uất ở châu Phi thời thánh Augustinô.
Còn đâu niềm vui lớn lao, khi Hội Thánh Chính Thống, Hội Thánh Anh giáo, Hội Thánh Tin Lành, Hội Thánh Rôma còn là một Hội Thánh hiệp nhất.
Còn đâu niềm tự hào chính đáng của những thời nhiều nước còn đông đảo tín hữu giữ đạo đàng hoàng, như tại Pháp, Ý, Tây Ban Nha!

Tại Việt Nam

Riêng tại Giáo Hội Việt Nam, hiện nay bề ngoài coi như phát triển hơn bao giờ hết. Tin tức hằng tuần và hàng đầu là các từ thánh đủ loại. Như:

phong chức thánh,
mừng chức thánh,
mừng đền thánh,
mừng năm thánh,
hành hương thánh đường,
xây dựng thánh đường,
dự hội thánh,
đồng tế hàng trăm linh mục trên cung thánh,
quy tụ hàng ngàn giáo dân trong khuôn viên nhà thánh.

Bề ngoài có vẻ thánh. Nhưng ai dám quả quyết là bên trong không có những sóng ngầm, có khả năng biến thành sóng thần bất ngờ ập tới không? Tới đây, tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu khuyên nhủ: "Các con phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu các con... Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người" (Lc 21,34-36).

Chúa Giêsu đề cập đến "chè chén say sưa, lo lắng việc đời" như những gì làm cho lòng các người trong đạo nên nặng nề. Điều đó quá đúng. Nhưng, nay, nếu phải nói cụ thể hơn về "lo lắng việc đời" thì sẽ phải kể ra nhiều thứ. Như tiền bạc, quyền lợi, tranh chấp, cục bộ. Thêm vào việc lo lắng sự đời với những cụ thể đó, lại có chuyện lo lắng việc đạo, với nhiều thứ cụ thể lềnh kềnh lỉnh kỉnh, thì lòng chúng ta sẽ nên nặng nề gấp mấy.

Tỉnh thức

Mấy ngày nay, biến cố sóng thần gây tang tóc cho nhiều nước Á châu đã là đề tài suy nghĩ cho hầu hết mọi người tại Việt Nam ta.
Hơn nữa, rất đông người có đạo cầu nguyện nhiều hơn. Họ như đọc được ý Chúa trong biến cố này. Nên họ nghĩ tới cuộc đời mong manh, và sự cần thiết phải lo cho phần rỗi mình khi còn thời giờ.
Đang khi đó, chẳng may cũng có một số người vẫn ung dung, dửng dưng, vô cảm. Đây là điều làm tôi buồn. Tôi sợ cho họ, cho Hội Thánh và cả cho chính tôi.

Riêng tôi, trong tình hình thảm khốc này, với lương tâm được đánh thức, tôi hay đọc lại lời Chúa Giêsu phán với các môn đệ về tương tai đền thờ Giêrusalem, Người phán: "Các con nhìn ngắm công trình vĩ đại đó ư? Tại đây, sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào, tất cả đều sẽ bị phá đổ" (Mc 13,2).

Với lòng xót thương chân thành, chúng ta cầu nguyện cho mọi nạn nhân của nạn hồng thuỷ mới xảy ra. Chúng ta cũng hãy tỉnh thức, nghĩ tới chính mình và Giáo Hội Việt Nam ta, kẻo lỡ ra có ngày "Không còn hòn đá nào trên hòn đá nào".

Nhưng cho dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng không thất vọng. Xưa Chúa Giêsu phán: "Những con cáo có hang, những con chim có tổ. Nhưng Con Người không có nơi để gối đầu và nghỉ ngơi" (Lc 9,58).

Các môn đệ Chúa thuở đó cũng vậy.
Trong ba thế kỷ đầu, hầu như Hội Thánh không xây dựng một đền thờ nào. Tín hữu quy tụ nơi nào thấy tiện. Không phải người ta đến với Hội Thánh, nhưng chính Hội Thánh đến với người ta. Một Hội Thánh nghèo, thánh thiện, không bị gò bó vào những cơ sở nặng nề về vật chất hoặc tinh thần, sẽ dễ đến với mọi người thiện chí, nhất là đến với người nghèo khổ và bị loại trừ.

Năm thánh Thánh Thể tại Việt Nam đang có nhiều chuyển biến tốt. Số người đi dự thánh lễ có nơi càng ngày càng đông. Số người đến chầu Thánh Thể cũng có tháng càng ngày càng tăng. Nhiều nhà thờ tổ chức chầu Thánh Thể vào những giờ trưa, tối và đêm. Vì chỉ những lúc đó, người ta mới rảnh việc. Tất nhiên, ai muốn tới thì tới. Thế mà vẫn không thiếu người tới. Âm thầm mà sốt sắng.

Để góp phần nào vào các sinh hoạt kể trên, tôi xin phép đưa ra một kinh nghiệm. Kinh nghiệm này được rút ra từ bản thân, nhưng nhất là từ các người đã sống phép Thánh Thể và các sách đạo đức ghi lại những lời dạy của các vị thánh. Kinh nghiệm đó là: Mỗi khi tới phép Thánh Thể, hãy để ý đến việc gặp gỡ thực sự với Chúa Giêsu. Việc gặp gỡ đó diễn tiến thế nào, dưới đây tôi xin vắn tắt tạm diễn tả.

1/ Gặp gỡ khởi sự từ Kinh Thánh
Trong Kinh Thánh, Chúa Giêsu được mạc khải dưới nhiều dung mạo. Như: Đấng cứu độ, Chủ chiên nhân lành, Đấng xoá tội trần gian, Nguồn nước hằng sống, vv... Riêng tôi, tôi hay gặp gỡ Người dưới dung mạo: Người yêu thương tôi.

Chính Chúa Giêsu phán: "Như Chúa Cha đã yêu thương Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu thương các con như vậy" (Ga 15,9).
Người còn tả tình yêu thương của Người bằng một lời dâng hiến, khiến ta không thể nghi ngờ: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình" (Ga 1513).

"Thiên Chúa là Tình yêu" (1 Ga 4,16).
Với niềm tin vào những lời trên đây của Kinh Thánh, tôi gặp gỡ Chúa Giêsu. Lúc đó, tôi thấy một Chúa Giêsu rất sống động, rất gần gũi, rất thân thương. Nét đặc biệt của tình thương nơi Người là hiến mạng sống vì tôi, như lời thánh Phaolô viết: "Hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng sống vì tôi" (Gl 2,20).

2/ Gặp gỡ trong cầu nguyện
Tôi tin những lời Kinh Thánh trên đây. Nhưng chỉ tin mà thôi không đủ. Tôi phải cầu nguyện và gẫm suy. Tôi gẫm suy Lời Chúa và cầu nguyện với Chúa dựa trên những gì tôi tin. Cầu nguyện và gẫm suy có thể cụ thể hoá trong các việc sau đây:

1. Việc tạ ơn,
2. việc sám hối, phạt tạ,
3. việc xin tăng cường đức tin cho mình và cho mọi người.
4. việc xin cho ta biết yêu thương người khác như Chúa yêu thương ta.

Lúc đó, gẫm suy và cầu nguyện đều diễn tiến trong ơn thánh. "Không có Thầy, các con không làm gì được" (Ga 15,5). Lời Chúa khẳng định đó sẽ giúp chúng ta khiêm tốn từ bỏ sức riêng mình, để việc gặp gỡ Chúa trở thành một sự thờ phượng từ nội tâm. Để ta có thể nói như thánh Phaolô xưa: "Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, nhưng là Đức Kitô sống trong tôi" (Ga 2,20).

Càng cầu nguyện trong tâm thức đó, chúng ta càng sẽ cảm nghiệm sự gặp gỡ Chúa Giêsu thúc đẩy ta trở về với Chúa và thay đổi con người tội lỗi của mình. Nhất là ta sẽ dốc lòng bỏ thói quen

- dửng dưng đối với tình yêu Chúa, - lợi dụng tình yêu Chúa,
- xúc phạm đến tình yêu Chúa. Sau cùng ta dâng hiến mình cho Chúa Giêsu.

3/ Gặp gỡ trong dâng hiến
Ta dâng hiến mình, là xin Chúa Giêsu cầm lấy chìa khoá đời ta, để ta được Người làm cho nên giống Người, Đấng luôn vâng phục ý Chúa Cha. Như Người đã nói: "Thế gian hãy biết rằng: Thầy yêu mến Chúa Cha, và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy" (Ga 14,31).

Từ sự dâng hiến này, ta như xuất hành, bước đi theo Chúa Giêsu, trên đường Người muốn ta đi và đến nơi Người muốn ta tới. Đó chính là sự đổi mới chính mình một cách dứt khoát với tinh thần phạt tạ, phó thác và phục vụ.

Trong dâng hiến, ta sẽ tự ẩn mình, tự xoá mình, tự vùi mình trong âm thầm, để Chúa Giêsu được tỏ mình ra, tuỳ ý Người muốn nơi ta, cho dù ta sẽ phải chịu đóng đinh cùng với Người một cách nào đó. Như lời thánh Phaolô quả quyết: "Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thánh giá" (Gl 2,19). Dâng hiến tới mức đó là để phục vụ tới mức tối đa.

* * * * *

Rất mong chia sẻ vắn tắt trên đây sẽ giúp cho việc dự thánh lễ và chầu Thánh Thể của mỗi người chúng ta đi vào chiều sâu. Nếu không đi vào chiều sâu, tôi sợ Năm Thánh Thể sẽ dần dần qua đi, mà bản thân chúng ta không được biến đổi, không được dâng hiến thực sự cho Chúa.

Tôi sợ như vậy là có căn cứ. Bởi vì, không thiếu trường hợp, sau chầu Thánh Thể, nhất là sau thánh lễ, nhiều người chỉ nhớ quang cảnh buổi lễ, hoặc vị chủ lễ. Họ nhớ và kể lại chỉ những cái bề ngoài, như trong lòng họ chỉ còn đọng lại có thế thôi. Chứ không hề có dấu gì về sự họ gặp gỡ thực sự chính Chúa Giêsu.

Thực là đáng tiếc.
Cái gì cũng có thể bị lợi dụng, kể cả những sinh hoạt mang nhãn hiệu thánh. Chúng ta quá biết rồi. Ma quỷ càng biết rõ điều đó hơn ta.
Vì thế, tôi hết sức hy vọng, trong năm Thánh Thể này, chúng ta hãy chú tâm vào sự gặp gỡ Chúa Giêsu. Một sự gặp gỡ thực sự
trong đức tin,
trong cầu nguyện,
trong dâng hiến.

Nếu chúng ta thực tâm khao khát, thì Chúa sẽ giúp chúng ta thực hiện được sự gặp gỡ như vậy. Nhờ sự gặp gỡ thường xuyên này, chúng ta sẽ sống trong tinh thần phục vụ và tiết chế, là những đức tính hiện nay được coi là cần thiết, để cải thiện một tình hình, mà đạo đức xem ra đang xuống dốc một cách bình thường!

Xuân mới càng lúc càng tới gần. Nhưng nhiều nơi đã bắt đầu chuẩn bị mừng Tân Xuân. Trong Giáo Hội tại Việt Nam, nhiều nơi có thói quen thực hiện một chuẩn bị tốt, ít ra cho hàng giáo sĩ. Chuẩn bị tốt đó là tĩnh tâm vài ngày. Hiệp thông với chuẩn bị tốt lành đó, tôi cũng tĩnh tâm riêng.

Đang lúc mới bước vào tĩnh tâm, tôi nhận được tập nội san cuối năm của nhóm huynh đệ gởi từ Pháp. Trong tập nội san lần này, có một bài chia sẻ độc đáo, đơn sơ, nhưng đầy gợi ý cho người tĩnh tâm. Bài chia sẻ là một câu chuyện nhỏ. Tóm tắt thế này:

Câu chuyện nhỏ

Một người da đen có người bạn da trắng. Hai người ở xa nhau. Một hôm, người da đen bỏ quê nghèo của mình đến thăm người bạn da trắng. Người da trắng sinh sống giữa phố phường sang trọng.

Một buổi chiều hai người đi dạo trò chuyện trên đường phố. Bỗng dưng, một lúc bất ngờ, người da đen tỏ vẻ ngạc nhiên, ngưng nói, chăm chú lắng nghe gì đó xa xôi. Rồi anh nói với người bạn da trắng: Tôi nghe như có tiếng chim sâu gần đây. Ông bạn da trắng trả lời: Anh nói lạ! Đây là phố. Tôi chỉ nghe tiếng các xe lăn bánh.

Tiến xa hơn một quãng, ông bạn da đen chỉ cho ông bạn da trắng thấy: Kìa bên đường có một khu nhà cũ, có vườn cây, và thực sự có một con chim sâu đang hót. Ông bạn da trắng khen: Anh có thính giác tốt hơn tôi! Ông bạn da đen thưa: Không phải thế đâu. Thính giác của tôi cũng như thính giác của anh. Chỉ khác nhau ở chỗ tôi ở vùng quê, quen với tiếng chim kêu, thích tiếng chim hót. Nên dễ nhận ra.

Rồi, anh da đen mở túi tiền của anh, mở ra, lấy ba đồng cắc, ném mạnh xuống đường. Lập tức, mấy người đi trước, quay lại, tìm những đồng tiền tưởng ai mới đánh rơi. Anh bạn da đen nói với ông bạn da trắng: Anh thấy chưa. Họ quen nghe tiếng tiền, nên tai họ nhạy bén với tiền. Tất cả là do lòng mình thích nghe gì, quen nghe gì, chờ đợi nghe gì.

Áp dụng câu chuyện

Vị linh mục, tác giả bài chia sẻ trên, không kết luận gì. Nhưng tôi hiểu ngài muốn gởi cho bạn bè một gợi ý.
Ý được gợi lên trong tôi là ý đạo đức. Xin tóm tắt ý đó như sau:

Chúng ta đang sống trong một nền văn minh vật chất cao. Tại nhiều nơi, nền văn minh đó đang hướng con người vào một mục đích mới. Đó là sống để hưởng thụ. Hưởng thụ về các thứ sung sướng do khoa học, danh vọng, chức quyền đem lại.

Sống trong bầu khí văn minh đó, với mục đích cuộc đời như thế, con người sẽ chỉ nhạy bén với tiền và với những phương tiện đem lại hưởng thụ.

Một tình hình như vậy đang tiến lên rất mau. Nó có đem lại một số giá trị tích cực, nhưng đồng thời nó cũng gây nên nhiều tiêu cực. Nhất là khoảng cách giữa giàu với nghèo càng ngày càng sâu rộng hơn. Khoảng cách đó sẽ không tránh được những bất công. Bất công sẽ gây nên bất mãn. Hậu quả có thể sẽ rất tồi tệ cả về an toàn xã hội lẫn về phát triển đạo đức. Khi một tình hình như thế trở thành nguy cơ lớn cho nhân loại, thì cần đến một sự cứu độ.

Trong việc cứu độ, Chúa kêu gọi Hội Thánh nói chung, và các giáo sĩ nói riêng hãy là những cộng tác viên của Chúa. Chúa kêu gọi nhỏ nhẹ. Chỉ những ai có cõi lòng thanh vắng hướng về Chúa mới nghe được.

Hai lời kêu gọi

Tiếng Chúa gọi chúng ta trong tình hình hiện nay mang tính khẩn thiết. Nếu hỏi: Chúa kêu gọi khẩn thiết sự gì? Thì có thể trả lời: Chúa chỉ nhắc lại những gì Chúa đã kêu gọi xưa, mà Phúc Âm còn ghi. Những kêu gọi đó rất cần cho lúc này.

Tôi nghĩ tới hai lời kêu gọi sau đây:
Lời kêu gọi thứ nhất là: Môn đệ Chúa cần đổi mới bản thân. Chúa phán rõ điều đó với ông Nicôđêmô: "Thật, tôi bảo thật ông. Không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh lại bởi ơn trên" (Ga 3,5).

Chúa Giêsu nhấn mạnh đến vai trò của Chúa Thánh Linh trong sự tái sinh này (x. Ga 3,8). Nhờ sự tái sinh này, môn đệ Chúa sẽ gắn bó chặt chẽ với Chúa Giêsu như cành với cây. Chúa phán: "Thầy là cây nho, các con là cành nho" (Ga 15,5). Cũng nhờ sự đổi mới này, người môn đệ Chúa sẽ phản ánh chân dung một Chúa Giêsu khó nghèo, hy sinh ở Belem, ở Nagiarét, ở núi Sọ, và được phục sinh trong sự sống mới.

Lời kêu gọi thứ hai là:
Môn đệ Chúa hãy biết thương cảm, đồng cảm với những người khổ đau, và những người mang trách nhiệm nặng nề.

Chúa luôn kêu gọi các môn đệ Chúa hãy biết thương cảm, đồng cảm đối với người đau khổ. Lời kêu gọi rõ nhất là khi Chúa nêu gương người Samarita tốt lành, ông này thương cảm trong lòng, ngoài miệng và bằng hành động cụ thể. Rồi, gương ông Simon vác đỡ thánh giá cho Chúa Giêsu (x. Lc 23,26).

Tại Việt Nam hôm nay, trong đạo ngoài đời, số người nghèo chiếm đa số. Những người mang trách nhiệm nặng cũng khá đông. Nếu chẳng may có những người môn đệ Chúa lại được nhìn như thuộc giai cấp giàu, nhàn hạ, hoặc thiếu thương cảm, thiếu chia sẻ, thì sẽ khó tránh được những suy nghĩ không mấy thiện cảm của người dân đối với đạo ta.

Hướng về tương lai

Tôi nghĩ rằng: Nhiều môn đệ Chúa tại Việt Nam đã nghe được hai tiếng gọi khẩn thiết trên đây. Các ngài đang cố gắng đáp lại lời Chúa gọi. Các ngài đúng là người của Chúa, mang Chúa trong lòng, và đưa Chúa là Tin Mừng đến cho nhiều người. Tình hình nhờ đó mà được cải thiện.

Nhưng, chẳng may, xem ra cũng còn một số môn đệ Chúa chưa tiếp thu được hai lời kêu gọi khẩn thiết trên. Hoặc có biết, nhưng không cố gắng đáp ứng. Do đó, tình hình nhiều nơi vẫn chuyển biến xấu.

Tương lai sẽ là bãi chiến trường rộng lớn giữa sự thiện và sự ác. Cuộc chiến đó sẽ rất cam go. Nếu các môn đệ Chúa biết lắng nghe tiếng Chúa và thi hành ý Chúa, thì một mùa Xuân thiêng liêng sẽ đến với Quê Hương Việt Nam và Hội Thánh Việt Nam.

Câu hỏi để kết thúc là: Lòng ta có nghe được tiếng Chúa gọi không?

Hạnh phúc cho ta, nếu ta biết nghe thánh ý Chúa và để thánh ý Chúa dẫn đưa đời ta.

 

GM Bùi Tuần

Bài chia sẻ với các linh mục giáo phận Long Xuyên,
dịp tĩnh tâm đầu năm 2005